Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀ TRUNG

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 09-05-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Biên và bà Nguyễn Thị Chung.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Trịnh Huy Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 04 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Lê Văn T, sinh ngày 10/06/1985, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà Vũ Thị S; có vợ là: Ngô Thị Thu H và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2021, bị Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54283/QĐ-XPHC ngày 15/05/2021, đã nộp phạt ngày 21/06/2021; bị tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 25/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay; tạm giam: không. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Vũ Thị T2, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 9/2021, do quen biết với Lê Văn T, chị Vũ Thị T2 có vay của T số tiền 100.000.000 đồng, hai bên thống nhất lãi suất là 3.000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 01 ngày (tương đương với lãi suất 109,5%/năm gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm), mỗi tháng chị T2 phải trả số tiền lãi là 9.000.000, việc trả lãi có thể linh động (cả về số tiền và thời gian trả trong tháng). Do tin tưởng nhau nên hai bên không viết giấy vay nợ. Sau khi thỏa thuận, T đưa cho chị T2 vay 100.000.000 đồng tiền mặt.

Quá trình vay, ngày 10/05/2022, chị T2 đã trả hết số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng cho T nên T không tính tiền lãi phát sinh từ tháng 04/2022 đến tháng 05/2022; chị T2 đã xin T 01 tháng tiền lãi tương đương số tiền 9.000.000 đồng và được T đồng ý. Toàn bộ số tiền lãi và tiền nợ gốc đều được chị T2 trả cho T thông qua hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 101872437418 của chị T2 mở tại Ngân hàng V đến số tài khoản 106871017259 của T mở tại Ngân hàng V. Như vậy, tính từ tháng 09/2021 đến ngày 10/05/2022, số tiền lãi thực tế T đã thu được của chị T2 là 54.000.000 đồng trên số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng tương đương với thời gian 06 tháng.

Tiến hành khám xét tại nơi ở của Lê Văn T nhưng cơ quan điều tra không phát hiện và thu giữ được tài liệu, chứng cứ liên quan.

Căn cứ vào nội dung Công văn số 1077/TTH-TTGSNH ngày 23/08/2023 của Ngân hàng N - Chi nhánh T3 xác định:

  • - Số tiền lãi tối đa thu cho khoản vay 100.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự mà Lê Văn T được thu của chị Vũ Thị T2 trong 06 tháng là: (100.000.000 đồng x 20%/năm)/365 ngày x 180 ngày = 9.863.000 đồng (đã làm tròn số).
  • - Tổng số tiền lãi thu được vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự mà Lê Văn T đã thu của chị Vũ Thị T2 là: 54.000.000 đồng - 9.863.014 đồng = 44.137.000 đồng (đã làm tròn số).

Cáo trạng số 36/CT-VKSHT ngày 09/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng: khoản 1, 3 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 35; Điều 36; Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 25/01/2024. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo do bị cáo là lao động tự do. Hình phạt bổ sung: phạt tiền 30.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Trách nhiệm dân sự: tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền bị cáo Lê Văn T dùng để cho vay là 50.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung. Truy thu của bị cáo Lê Văn T số tiền dùng để cho vay là 50.000.000 đồng và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm là 9.863.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo phải trả lại cho chị Vũ Thị T2 số tiền mà T đã thu lợi bất chính là 44.137.000 đồng. Án phí: buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về tội danh: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: từ tháng 09/2021 đến ngày 10/05/2022, Lê Văn T đã cho chị Vũ Thị T2 vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 5,475 lần, thu lợi bất chính với tổng số tiền là 44.137.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo Lê Văn T về tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo là đối tượng đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54283/QĐ-XPHC ngày 15/05/2021 của Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.

Bị cáo không có tình tiết tặng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo và tự nguyện khắc phục hậu quả là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo đầu thú và có bố mẹ là người có công với cách mạng được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mặc dù bị cáo Lê Văn T có nhân thân xấu nhưng lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung là phạt tiền và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ cũng đủ khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo. Thời gian bị cáo bị tạm giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cái tạo không giam giữ.

Bị cáo Lê Văn T phạm tội vì mục đích lợi nhuận, thu lợi bất chính nên cần áp dụng khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền 100.000.000 đồng, bị cáo dùng để cho chị Vũ Thị T2 vay là công cụ phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Số tiền này, chị T2 đã trả cho bị cáo và bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung số tiền 50.000.000 đồng nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Số tiền 50.000.000 đồng còn lại bị cáo chưa nộp nên phải truy thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 9.863.000 đồng là tiền lãi bị cáo thu từ chị Vũ Thị T2 trong thời gian 06 tháng tương ứng với mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đây là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần truy thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với tổng số tiền 44.137.000 đồng là tiền lãi do bị cáo Lê Văn T đã thu lợi bất chính của chị Vũ Thị T2 vượt quá mức lãi cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự. Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị T2 yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này nên buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị T2.

[7]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1, khoản 3 Điều 201; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 35; Điều 36; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố: bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Xử phạt: bị cáo Lê Văn T 21 (hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 07 (bảy) ngày tạm giữ (từ ngày 19/01/2024 đến ngày 25/01/2024) quy đổi thành 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 20 (hai mươi) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn T số tiền: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

3. Trách nhiệm dân sự:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) của bị cáo Lê Văn T theo các Biên lai thu tiền số 0003298 ngày 26/04/2024 và số 0003299 ngày 02/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Truy thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 59.863.000₫ (năm mươi chín triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn đồng) đối với bị cáo Lê Văn T.

Buộc bị cáo Lê Văn T phải trả lại số tiền 44.137.000đ (bốn mươi bốn triệu một trăm ba mươi bảy nghìn đồng) cho chị Vũ Thị T2.

4. Án phí: buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Trung;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Hà Trung;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: từ tháng 09/2021 đến ngày 10/05/2022, Lê Văn Thiệp đã cho chị Vũ Thị Trúc vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 5,475 lần, thu lợi bất chính với tổng số tiền là 44.137.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger