Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08/7/2024

V/v: “Kiện ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Minh;

2. Bà Trần Thị Dinh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 63/2024/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1965

Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Vắng mặt”

2. Bị đơn: Ông Cù Thanh S - Sinh năm 1962

Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà Nguyễn Thị H và ông Cù Thanh S được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 07/02/1990 tại Ủy ban nhân dân xã M, thị xã Y, tỉnh Hoàng Liên Sơn, trên cơ sở tự nguyện. Do thời gian đã lâu Ủy ban nhân dân xã M không cấp lại được trích lục kết hôn nên ngày 15/3/2024 bà Nguyễn Thị H và ông Cù Thanh S đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình chung sống, hai vợ chồng ông bà hạnh phúc được khoảng 25 năm và có với nhau 02 con. Từ năm 2015 hai người liên tục xích mích, mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không thể hòa hợp được. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng từ nhiều nguyên nhân tình cảm vợ chồng, hai bên gia đình và kinh tế gia đình, bà H có vay nợ để làm ăn thua lỗ dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Từ ngày 20/2/2024 bà H không thể chung sống cùng ông S nên đã bỏ nhà đi thuê nhà để ở, hai vợ chồng đã ly thân từ đó. Ngày 10/4/2024 bà H và ông S đã thống nhất thỏa thuận về việc chia tài sản, bà H đã làm thủ tục tặng cho nhà và đất cho ông S và con trai Cù Đức L, hai bên đã viết cam kết thỏa thuận thuận tình ly hôn. Đến nay bà Nguyễn Thị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, bà H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết cho bà được ly hôn với ông Cù Thanh S.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Cù Đức L, sinh năm 1990 và cháu Cù Đức H1, sinh năm 2000. Các cháu đều đã trên 18 tuổi, có việc làm và có cuộc sống riêng nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Cù Thanh S trình bày: Ông Cù Thanh S nhất trí về ngày tháng năm và địa điểm đăng ký kết hôn như bà Nguyễn Thị H trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không có xích mích gì lớn. Tuy nhiên đến ngày 21/02/2024 bà H có nói là đang có khoản nợ 2,2 tỷ đồng, mức lãi là 2 triệu/ngày, một tháng phải trả 66 triệu đồng, bà H có bàn bạc với ông là ly hôn, chia tài sản được hưởng để bà H trả nợ, số tài sản còn lại thì ông S và các con không bị chủ nợ đòi. Ông S có hỏi bà H về khoản nợ 2,2 tỷ nhưng bà H không nói, ông S đã bàn bạc với bà H là lấy bìa đỏ mang tên cháu Cù Đức H1 để trả nợ, nếu như vợ chồng ly hôn không phải chia nhà đang ở tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN738382 và yêu cầu bà H phải qua công chứng, từ chối chia tài sản tại lô đất đang ở, bà H cũng nhất trí. Ngày 22/3/2024 ông S, bà H và các con đến phòng C thì được biết bà H vay nợ 06 tháng từ ngày 05/02/2024 đến ngày 05/8/2024 của ông Nguyễn Văn H2, địa chỉ tổ B phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai, với số tiền 2.200.000.000 đồng, nhưng đến ngày 07/3/2024 ông H2 đã đòi cả gốc và lãi khiến bà H phải trốn khỏi nơi ở. Bà Nguyễn Thị H đã bỏ nhà đi thuê nhà ở riêng từ ngày 21/2/2024. Đến nay bà H khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Cù Thanh S không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Cù Đức L, sinh năm 1990; cháu Cù Đức H1, sinh năm 2000. Các cháu đều đã trên 18 tuổi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Vợ chồng đã thỏa thuận xong không yêu cầu giải quyết

Tại phiên tòa ông Cù Thanh S giữ nguyên ý kiến

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về tố tụng: Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về việc “Ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Cù Thanh S được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 07/02/1990 tại Ủy ban nhân dân xã M, thị xã Y, tỉnh Hoàng Liên Sơn, trên cơ sở tự nguyện. Do thời gian đã lâu Ủy ban nhân dân xã M không cấp lại được trích lục kết hôn nên ngày 15/3/2024 bà Nguyễn Thị H và ông Cù Thanh S đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai do vậy hôn nhân giữa bà H và ông S là hôn nhân hợp pháp. Bà H cho rằng do bà H vay nợ để làm ăn nhưng thua lỗ dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn nên từ ngày 20/2/2024 bà H đã bỏ nhà đi ở thuê nơi khác, ông S cũng cho rằng bà Nguyễn Thị H nợ nần đã bỏ nhà đi thuê nhà ở riêng từ ngày 21/2/2024. Ngày 10/4/2024 bà H và ông S đã thống nhất thỏa thuận về việc chia tài sản xong theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 10/4/2024 công chứng số 897, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD tại văn phòng C1 Như vậy xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông S đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn. Vì vậy căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Cù Thanh S là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Cù Đức L, sinh ngày 21/11/1990; cháu Cù Đức H1, sinh ngày 11/01/2000, hiện nay hai cháu đều đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Cù Thanh S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Cù Thanh S. Quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị H và ông Cù Thanh S được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn. Xác nhận bà H đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000510 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai được trừ vào tiền án phí phải nộp.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

- TAND tỉnh;

- VKSND tỉnh; TP

- Các đương sự;

- THADS;

- UBND phường Bình Minh,

thành phố Lào Cai, tỉnh Lài Cai

- Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Thị Tuyết Lanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về kiện ly hôn

  • Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện "Ly hôn" giữa bà Nguyễn Thị H và ông Cù Thanh S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger