Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

NAM

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 39/2024/ HNGĐ - ST

Ngày: 07/5/2024

V/v: “ Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con khi ly hôn”;

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Khắc Kiếm

2. Ông Nguyễn Hồng Vân

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Minh Phương – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N - Sinh năm 1978

Nơi cư trú: SN 15 Ngõ A Phố N, Phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: SN 07 phố D, Phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Phạm Văn T - Sinh năm 1968

Nơi cư trú: SN 15 Ngõ A Phố N, Phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị Phạm Thị N, vắng mặt anh Phạm Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị NPhạm Văn T chung sống với nhau từ năm 1998, trên cơ sở tự nguyện và đến năm 2002 anh chị mới đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi kết hôn anh, chị sống hạnh phúc được khoảng một đến hai năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn, nên nhiều lần anh T đánh đập chị. Ngày 13/4/2024 do anh T đánh đập chị, do đó chị N bỏ về nhà mẹ đẻ ở và anh, chị sống ly thân từ đó cho đến nay, nhưng hàng ngày chị vẫn về nhà để lo cho cháu H ăn uống, sinh hoạt,

Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị với anh T thực sự không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị N và anh T có 03 con chung là Phạm Thị H1 – sinh năm 1999 ( đã chết); Phạm Văn H2 – sinh năm 2001; Phạm Văn Hoàng H3 – sinh ngày 12/9/2013.

Hiện nay cháu Phạm Văn H2 đã thành niên và có gia đình riêng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng đối với cháu Phạm Văn H2. Cháu Phạm Văn Hoàng H3 bị bệnh teo não, hiện đang được hưởng trợ cấp xã hội của nhà nước mỗi tháng 720.000đ.

Ly hôn, chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu H3 và yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản và công nợ: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản khai và hòa giải anh Phạm Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh Phạm Văn T cũng thống nhất với trình bày của chị N về thời gian chung sống, thời điểm kết hôn, điều kiện kết hôn. Nhưng theo anh T thì sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc bình thường, tuy đôi khi có sảy mâu thuẫn nhỏ với nhau và anh cũng có lần đánh chị N. Nguyên nhân do chị N có quan hệ với người đàn ông khác, nên mới xin ly hôn anh.

Nay anh T không đồng ý ly hôn vì hiện nay vợ cháu H2 sắp sinh con nhỏ và cháu H3 không có khả năng lao động, nên anh T có nguyện vọng vợ chồng đoàn tụ để các con được ổn định về mặt tâm lý. Khi nào các con ổn định thì anh sẽ là người chủ động ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh T cũng thừa nhận anh, chị có 03 con chung là: Phạm Thị H1 – sinh năm 1999 ( đã chết); Phạm Văn H2 – sinh năm 2001 và Phạm Văn Hoàng H3 – sinh ngày 12/9/2013.

Nếu phải ly hôn, anh T không đồng ý cho chị N được nuôi cháu H3.

Về tài sản và công nợ: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Kết quả thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương: Chị N và anh T chung sống với nhau từ năm 1998 và sau đó có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T. Quá trình chung sống với nhau tại địa phương thì có phát sinh mâu thuẫn. Anh T thường xuyên rượi chè, không chịu làm ăn về nhà đánh đập vợ. Hiện nay anh T, chị N có cháu Phạm Văn Hoàng H3 bị khuyết tật về thần kinh, không có khả năng lao động và không tự phục vụ bản thân được, cần phải có người khác phục vụ việc ăn uống và cháu H3 đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Tại phiên tòa chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

Ý kiến của đại diện VKS:

- Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý đến quá trình xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Pháp luật. Riêng bị đơn anh Phạm Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ hai lần, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện VKS đề nghị HĐXX:

Áp dụng:

  • - Điều 56, 81, 82, và 83 của Luật HNGĐ và NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Phạm Văn T.
  • - Về con chung: Chị Phạm Thị N và anh Phạm Văn T có 03 con là: Phạm Thị H1 – sinh năm 1999 ( đã chết); Phạm Văn H2 – sinh năm 2001; Phạm Văn Hoàng H3 – sinh ngày 12/9/2013.
  • Ly hôn, giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Văn Hoàng H3.
  • Anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ.
  • Anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  • - Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét;
  • - Về án phí: Chị Phạm Thị N và anh Phạm Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thành phố T, là thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn là anh Phạm Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó HĐXX căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Văn T.

[2] Về hôn nhân: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống anh, chị sảy ra mâu thuẫn, nên anh, chị đã sống ly thân nhau từ tháng 4 năm 2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải, nhưng chị N vẫn cương quyết xin ly hôn, đồng thời chị N có đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục hòa giải nữa, vì chị xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị với anh T thực sự không còn, nên không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật HNGĐ xử cho chị N được ly hôn anh T.

[3] Về con chung: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N có 03 con chung:

  1. Phạm Thị H1 – sinh năm 1999 ( đã chết);
  2. Phạm Văn H2 – sinh năm 2001;
  3. Phạm Văn Hoàng H3 – sinh ngày 12/9/2013.

Hiện nay cháu Phạm Văn H2 đã thành niên và có gia đình riêng, nên anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng đối với cháu Phạm Văn H2, do đó HĐXX không xem xét.

Đối với cháu Phạm Văn Hoàng H3 bị dạng khuyết tật: Thần kinh, mức độ nặng, cháu không có khả năng lao động, không tự phục vụ bản thân được. Hiện cháu đang hưởng trợ cấp xã hội, rất cần có sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác tuy hiện nay anh chị đã ly thân, nhưng chị N vẫn trở về để chăm sóc cho cháu H3 ăn uống, sinh hoạt hàng ngày và ly hôn chị N cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H3. Do đó HĐXX căn cứ vào Điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Văn Hoàng H3.

Về cấp dưỡng nuôi con: Cháu Phạm Văn Hoàng H3 bị khuyết tật về Thần kinh, mức độ nặng, cháu không có khả năng lao động, không tự phục vụ bản thân được và không có tài sản để tự nuôi mình. Tuy hiện đang được hưởng trợ cấp xã hội mỗi tháng 720.000đ, nhưng số tiền này không đủ để mua thuốc và sinh hoạt cho cháu, nên vẫn cần có sự cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau khi ly hôn. Do đó cần buộc anh Phạm Văn T phải có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi cháu Phạm Văn Hoàng H3 cùng chị Phạm Thị N mỗi tháng 1.500.000đ là phù hợp với thực tế và thu nhập của anh, chị, vì hiện nay anh T và chị N đều làm nghề lao động tự do.

Anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;

[4] Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và anh Phạm Văn T phải chịu án phí về cấp dưỡng định kỳ theo dưỡng định kỳ, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS và Điểm a Khoản 5 Điều 27; Điểm a Khoản 6 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 56; Điều 81; 82, 83; 110 của Luật Hôn nhân và gia đình..

Điểm a Khoản 2 Điều 482; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điểm a Khoản 5 Điều 27; Điểm a Khoản 6 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Phạm Văn T.
  2. Về nuôi con chung: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N có 03 con chung:
    1. Phạm Thị H1 – sinh năm 1999 ( đã chết);
    2. Phạm Văn H2 – sinh năm 2001;
    3. Phạm Văn Hoàng H3 – sinh ngày 12/9/2013.

    Hiện nay cháu Phạm Văn H2 đã thành niên và có gia đình riêng, nên anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng đối với cháu Phạm Văn H2, do đó HĐXX không xem xét.

    Ly hôn, giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Văn Hoàng H3 – sinh ngày 12/9/2013. Anh Phạm Văn T cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi xét xử ( Tháng 5 năm 2024) đến khi cháu Phạm Văn Hoàng H3 không còn nhu cầu cần phải cấp dưỡng.

    Anh Phạm Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;

  3. Về tài sản, công nợ: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0001102 ngày 03/01/2024 của Chi cục THADS thành phố T ( Chị N đã nộp đủ tiền án phí).

    Anh Phạm Văn T phải nộp 300.000đ án phí về cấp dưỡng định kỳ.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. Chị Phạm Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS TP Thanh Hoá;
  • - UBND p. Nam Ngạn;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger