1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 05-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm
Bà Võ Thị Vân Khánh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tý - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/HS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Phan Đức P (tên gọi khác là: H), sinh năm 1979, tại tỉnh Đồng Tháp;
Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện nay: Số B, Đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); bị cáo đã từng có vợ tên là Phan Thị H1 (nhưng đã ly hôn năm 2005) và có 01 người con, sinh năm 2005; tiền án: Ngày 25/12/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/04/2005, nhưng chưa chấp hành nộp án phí, nên chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 10/3/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/08/2010, đã đóng xong án phí, đã được xóa án tích; Ngày 14/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/01/2017, đã đóng xong án phí, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024, chuyển tạm giam kể từ ngày 27/02/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt tại phiên tòa)
2
Tháp;
2. Nguyễn Rô Đ (tên gọi khác là: Cu Đ1), sinh năm 1978, tại tỉnh Đồng
Nơi cư trú: Số A, Tổ G, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ2 (đã chết) và bà Huỳnh Thị Mỹ T; bị cáo đã từng có vợ tên là Nguyễn Thị Thu X (đã ly hôn năm 2007) và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án: Ngày 18/04/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 17 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/08/2023, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024, chuyển tạm giam kể từ ngày 27/02/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bị hại: Bà Phan Thị Kim S, sinh năm 1955; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Tấn T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: G, Chung cư A, Đường P, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản cáo trạng số 38/CT-VKSTT ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xác định: Khoảng 10 giờ ngày 18/02/2024, Phan Đức P rủ Nguyễn Rô Đ cùng nhau đi tìm trộm cắp tài sản là xe mô tô hoặc cướp giật tài sản của người dân đi trên đường, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, Đ đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Axelo màu xanh - trắng, biển số 79H1-249.06 chở Đ ngồi phía sau đi từ nhà của P ở ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp lưu thông trên các tuyến đường thuộc tỉnh Long An, để tìm xe mô tô của người dân đậu trên đường không có người trông giữ để lấy trộm hoặc thấy người dân lưu thông trên đường có đeo dây chuyền vàng thì cướp giật. Từ ngày 18/02/2024 đến 19/02/2024, P và Đ đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản. Cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 18/02/2024, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Axelo màu xanh - trắng biển số 79H1-249.06 chở Đum ngồi phía sau lưu thông trên đường thuộc ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Long An, P và Đ phát hiện 02 người phụ nữ (không xác định được họ tên, địa chỉ) đi chung trên xe mô tô nhãn hiệu SH màu trắng, không xác định được biển số xe đang chạy ngược chiều với xe mô tô do P điều khiển, người phụ nữ ngồi phía sau có đeo một sợi dây chuyền bằng vàng trên cổ nên cả hai thống nhất cùng giật dây chuyền của người phụ nữ ngồi phía sau. Lúc này, P điều khiển xe mô tô quay đầu lại, vượt lên và áp sát vào phía bên trái xe mô tô do người phụ nữ điều khiển, Đ ngồi phía sau dùng tay phải giật mạnh sợi dây chuyền của người phụ
3
nữ ngồi sau và lấy được một đoạn dây chuyền dài 10,5 cm có ký hiệu "THUTAI600" và "VL". Sau đó, P tăng tốc độ xe nhanh chóng chạy thoát. Khi đến đoạn đường vắng (không xác định được địa điểm cụ thể) P dừng xe lại lấy biển số 51N1-0996 do P mang theo sẵn trước đó gắn vào xe để thay thế biển số 79H1-249.06 nhằm tránh bị phát hiện. Sau đó, P điều khiển xe mô tô chở Đ đến xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thuê nhà trọ (không rõ bảng hiệu, địa chỉ) để ngủ.
- Vụ thứ hai: Sáng ngày 19/02/2024, P tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Axelo màu xanh, trắng đã được gắn biển số 51N1-0996 chở Đum ngồi phía sau lưu thông trên các tuyến lộ thuộc địa bàn huyện T, tỉnh Long An để tìm người dân có tài sản để sơ hở cướp giật tài sản. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô tô chở Đ lưu thông trên đường bờ Đông Kênh B thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An thì phát hiện bà Phan Thị Kim S đang đi bộ theo hướng ngược chiều với xe mô tô do P đang điều khiển, trên cổ bà S có đeo 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền. Lúc này, P quay đầu xe lại và kêu Đum chuẩn bị giật dây chuyền, Đ đồng ý, sau đó P điều khiển xe mô tô chở Đ áp sát phía bên trái người của bà S, Đ ngồi sau dùng tay phải giật mạnh sợi dây chuyền của bà S làm đứt thành hai đoạn, Đ lấy được một đoạn chiều dài 34cm, bà S giữ lại được một đoạn chiều dài 27 cm, sau đó P điều khiển xe mô tô tăng tốc độ tẩu thoát. Khi P điều khiển xe mô tô chở Đ lưu thông đến xã T, thành Phố M, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Long An bắt giữ. Qua điều tra, P và Đ khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 1494/KL-KTHS ngày 29 tháng 03 năm 2024 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận: 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền, dài 34cm, khối lượng: 11,1737 gam, có thành phần chủ yếu là V (Au): 59,85%, B (A): 13,75%, Đ3 (Cu): 22,48%; 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền, dài 27cm, khối lượng: 8,5172 gam, có thành phần chủ yếu là V (Au): 60,23%, B (A): 14,16%, Đ3 (Cu): 22,32%; 02 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng tổng chiều dài 10,5cm, trên có ký hiệu "THUTAI600" và "VL", khối lượng: 2,7794 gam, có thành phần chủ yếu là V (Au): 60,24%, B (A): 18,89%, Đ3 (Cu): 17,43%.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 24 tháng 04 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T. Kết luận: 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền, dài 34cm, khối lượng: 11,1737 gam, có thành phần chủ yếu là V (Au): 59,85%, B (A): 13,75%, Đ3 (Cu): 22,48%. Giá trị: 13.408.440đ; 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền, dài 27cm, khối lượng: 8,5172 gam, có thành phần chủ yếu là V (Au): 60,23%, B (A): 14,16%, Đ3 (Cu): 22,32%. Giá trị: 10.220.640đ; 02 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng tổng chiều dài 10,5cm, trên có ký hiệu "THUTAI600" và "VL", khối lượng: 2,7794 gam, có thành phần chủ yếu là V (Au): 60,24%, B (A): 18,89%, Đ3 (Cu): 17,43%. Giá trị: 3.335.280 đồng. Tổng cộng tài sản có giá trị 26.964.360đ.
4
Bị can Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ: Phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị can P và Đ phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ:
- 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền, dài 34cm; 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền, dài 27cm, tất cả đều là tài sản hợp pháp của bị hại Phan Thị Kim S. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phan Thị Kim S.
- 02 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng tổng chiều dài 10,5cm, trên có ký hiệu "THUTAI600" và "VL" là tài sản do bị can Phan Đức P và Nguyễn Rô Đ cướp giật được từ 02 người phụ nữ (không xác định được họ tên, địa chỉ) tại đoạn đường thuộc ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã phối hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V xác minh và ra thông báo truy tìm bị hại đối với các tài sản trên nhưng không tìm được bị hại.
- 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki, số loại Axelo màu xanh - trắng, biển số 79H1-249.06, số máy: F4CB-110357, số khung: F4510D0110350, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị can Phan Đức P sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 biển số 51N1-0669: Qua xác minh biển số trên do ông Ngô Đình K1, sinh năm 1971, HKTT: 600/76/2 Quốc lộ A, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký vào ngày 25/8/2005, hiện nay ông K1 đã chết, thông tin trên dữ liệu quốc gia dân cư đã xóa, gia đình ông K1 đã chuyển đi nơi khác sinh sống từ lâu (không rõ ở đâu). Khoảng năm 2019, bị can Phan Đức P nhặt được biển số 51N1-0669, trên đường thuộc huyện C, tỉnh Đồng Tháp và đem về nhà cất giấu, sau đó P đã sử dụng biển số trên thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 dụng cụ mở khóa bằng kim loại, kích cỡ 08mm, đã qua sử dụng và 04 đoãn tự chế bằng kim loại, dài 7,5 cm thuộc sở hữu hợp pháp của bị can Phan Đức P sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại phím bấm, gắn hai sim số 0968.578.606 và 0977.149.630, số seri 1: 355752105476631, số seri 2: 355752107476639, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị can Phan Đức P, không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 nón bảo hiểm màu đen, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác bằng vải, màu xanh – đen, nhãn hiệu THE NORTH FACE, size XXL, đã qua sử dụng; 01 quần Jean dài, màu xanh, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Tất cả đều là đồ cá nhân của bị can Phan Đức P mặc trên người khi thực hiện hành vi phạm tội.
5
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi 12C, gắn sim số 0788.309.221, số IMEI 1: 865509061213447, số IMEI 2: 865509061213454, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị can Nguyễn Rô Đ, không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 nón bảo hiểm màu đen, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu tím, viền trắng, mặt trước áo có chữ “Pikes Peak-colorado”, size L, đã qua sử dụng; 01 quần Jean dài, màu xanh, trên lưng quần ghi hiệu “ART OF DENIM, size 32, đã qua sử dụng. Tất cả đều là đồ cá nhân của bị can Nguyễn Rô Đ mặc trên người khi thực hiện hành vi phạm tội.
Tất cả các vật chứng trên cần tiếp tục tạm giữ chờ xét xử. Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi lại tài sản trả lại cho bị hại Phan Thị Kim S. Hiện nay, bà S không có yêu cầu gì thêm.
Trên cơ sở đó, Cáo trạng xác định hành vi của Phan Đức P đã phạm về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Nguyễn Rô Đ đã phạm về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
- d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
- i) Tái phạm nguy hiểm;
- ...”
Bị can Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị can Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
Từ đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Phan Đức P về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Rô Đ về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo: Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
6
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo đã gây ra, trên cơ sở cân nhắc đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Từ đó, đã đề nghị Hội đồng xét xử quyết định như sau:
- Về Tội danh: Đề nghị tuyên bố các bị cáo: Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về Hình phạt:
+ Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Đức P từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù.
+ Đề nghị áp dụng điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Rô Đ từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.
Ngoài ra, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh còn đề nghị về xử lý vật chứng và các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Các Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử áp dụng đối với các bị cáo, được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có đương sự nào khiếu nại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đều đã được thực hiện hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại Phan Thị Kim S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Tấn T1. Hội đồng xét xử xét thấy bà S có đơn xin xét xử vắng mặt, bà S đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra, nên sự vắng mặt này của bà S không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án. Ông Trần Tấn T1 chỉ liên quan đến việc xác định chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô biển số 79H1-249.06, ông T1 cũng đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra về việc đã bán xe mô tô biển số 79H1-249.06 cho người khác. Qua điều tra đã xác định xe mô tô biển số 79H1-249.06 đã được bị cáo P mua lại nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, nên việc vắng mặt tại phiên tòa của ông T1 không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bà S, ông T1.
7
[2] Về xác định tội phạm và định tội: Tại phiên tòa, các bị cáo xác định Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố các bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Hội đồng xét xử thấy rằng, từ các chứng cứ có trong hồ sơ như: bản tự khai, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với các bị cáo, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với nội dung bản kết luận giám định số 1494/KL-KTHS ngày 29 tháng 03 năm 2024 của Phân viện Khoa học Hình sự - Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh, phù hợp với nội dung bản Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 24 tháng 04 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, đủ cơ sở xác định trong các ngày 18 và 19 tháng 02 năm 2024, bị cáo P và bị cáo Đ đã công khai lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, dùng thủ đoạn nguy hiểm, 02 lần có hành vi giật dây chuyền vàng với tổng giá trị là 26.964.360đ của các chủ sở hữu rồi nhanh chóng tẩu thoát. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận các bị cáo: Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất và hành vi phạm tội: Các bị cáo Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ đã có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân, được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an và gây bức xúc cho nhân dân trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều nhận thức được việc cướp giật tài sản của người khác là trái pháp luật, sẽ bị pháp luật nghiêm trị, xã hội lên án, nhưng các bị cáo vẫn cố ý dùng thủ đoạn nguy hiểm và 02 lần thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo P, bị cáo Đ trước đó đều đã bị xử phạt tù về các tội phạm liên quan đến xâm phạm sở hữu, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Cướp giật tài sản” cũng là tội phạm liên quan đến xâm phạm sở hữu, chứng tỏ các bị cáo đã coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung.
[4] Xét về đồng phạm: Trong vụ án này có 02 bị cáo tham gia, nhưng chỉ ở mức độ đồng phạm giản đơn, không có sự tổ chức, bàn bạc, phân công, cấu kết chặt chẽ, song cũng cần xem xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo. Trong đó, bị cáo P giữ vai trò là người khởi xướng, rủ rê thực hiện việc cướp giật tài sản và cũng là người thực hành trực tiếp điều khiển xe mô tô chở bị cáo Đ thực hiện hành vi cướp giật, bị cáo Đ là người thực hành trực tiếp thực hiện hành vi giật dây chuyền của các bị hại, nên cả 02 bị cáo phải chịu trách nhiệm ngang nhau.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Theo Cáo trạng thì bị cáo P được xác định chỉ có 01 tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 25/12/2003, bị cáo P bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/04/2005, nhưng chưa chấp
8
hành nộp án phí hình sự sơ thẩm, nên vẫn chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới, được xem là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, khi luận tội, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị bổ sung tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Do đó, bị cáo P được xác định là có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo P, bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5.3] Về nhân thân: Bị cáo P, bị cáo Đ đều đã từng bị kết án do phạm tội, nên được xác định có nhân thân không tốt.
[6] Về quyết định hình phạt:
[6.1] Đối với bị cáo P: Từ những phân tích về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo; trên cơ sở cân nhắc các yếu tố về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như: Bị cáo P là người khởi xướng, rủ rê và cũng là người thực hành, bị cáo P có 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng có 02 tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, có nhân thân không tốt. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt nghiêm khắc bị cáo P bằng hình phạt tù có thời hạn, theo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Tuy nhiên, mức hình phạt tù theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo P là từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù là chưa nghiêm khắc, chưa tương xứng với tính chất, hành vi, các yếu tố về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, nên Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo P mức hình phạt tù cao hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm phòng ngừa loại tội phạm nguy hiểm này trong xã hội.
[6.2] Đối với bị cáo Đ: Từ những phân tích về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo; trên cơ sở cân nhắc các yếu tố về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như: Bị cáo Đ là người thực hành trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật, bị cáo Đ có 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có 01 tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, có nhân thân không tốt. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt nghiêm khắc bị cáo Đ bằng hình phạt tù có thời hạn, theo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhưng ở mức cao nhất, mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm phòng ngừa loại tội phạm nguy hiểm này trong xã hội..
[7] Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
9
[8] Về xử lý vật chứng:
[8.1] Đối với vật chứng là 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền, dài 34cm; 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng kiểu mắc đồng tiền, dài 27cm. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị hại Phan Thị Kim S. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phan Thị Kim S, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8.2] Đối với vật chứng là 02 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng tổng chiều dài 10,5cm, trên có ký hiệu "THUTAI600" và "VL" là tài sản do bị can Phan Đức P và Nguyễn Rô Đ cướp giật được từ 02 người phụ nữ (không xác định được họ tên, địa chỉ) tại đoạn đường thuộc ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Long An. Qua điều tra, mặc dù Cơ quan điều tra đã thực hiện thông báo truy tìm chủ sở hữu từ ngày 04/3/2024, nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm được thông tin về chủ sở hữu của phần tài sản này, nên chiếu theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015, cần xác định là hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì giải quyết cho nhận lại theo thủ tục chung; hết thời hạn trên, tài sản sẽ được sung ngân sách Nhà nước.
[8.3] Đối với vật chứng là: 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki, số loại Axelo màu xanh - trắng, biển số 79H1-249.06, số máy: F4CB-110357, số khung: F4510D0110350, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo P, sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[8.4] Đối với vật chứng là: 01 dụng cụ mở khóa bằng kim loại, kích cỡ 08mm, đã qua sử dụng thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo P và 04 đoãn tự chế bằng kim loại, dài 7,5 cm thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Đ. Các bị cáo khai chuẩn bị công cụ này để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8.5] Đối với biển số 51N1-0669: Qua điều tra đã xác định được đây là biển số xe của người khác đánh rơi, bị cáo P nhặt được trên đường từ năm 2019 đem về nhá cất giấu, nay được sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8.6] Đối với vật chứng là: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại phím bấm, gắn hai sim số 0968.578.606 và 0977.149.630, số seri 1: 355752105476631, số seri 2: 355752107476639, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo P và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi 12C, gắn sim số 0788.309.221, số IMEI 1: 865509061213447, số IMEI 2: 865509061213454, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Đ. Hai bị cáo không sử dụng các điện thoại này vào việc thực hiện hành vi phạm tội, nên cần hoàn trả lại cho chủ sở hữu.
[8.7] Đối với vật chứng là: 01 nón bảo hiểm màu đen, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác bằng vải, màu xanh – đen, nhãn hiệu THE NORTH FACE, size XXL, đã qua sử dụng; 01 quần Jean dài, màu xanh, không nhãn
10
hiệu, đã qua sử dụng, tất cả đều là đồ cá nhân của bị cáo P mặc trên người, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội, cần trả lại cho chủ sở hữu.
[8.8] Đối với vật chứng là: 01 nón bảo hiểm màu đen, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu tím, viền trắng, mặt trước áo có chữ “Pikes Peak-colorado", size L, đã qua sử dụng; 01 quần Jean dài, màu xanh, trên lưng quần ghi hiệu “ART OF DENIM, size 32, đã qua sử dụng, tất cả đều là đồ cá nhân của bị cáo Nguyễn Rô Đ mặc trên người, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội, nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
[10] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mức án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải nộp là 200.000đ, sung vào Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về áp dụng điều luật và hình phạt:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Đức P 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Đức P, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án (05/8/2024) để bảo đảm thi hành án.
- Áp dụng điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Rô Đ 05 (Năm) năm tù.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Rô Đ trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án (05/8/2024) để bảo đảm thi hành án.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Đức P 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Phan Đức P các tài sản gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại phím bấm, gắn hai sim số 0968.578.606 và 0977.149.630, số seri 1: 355752105476631, số seri 2: 355752107476639, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác bằng vải, màu xanh – đen, nhãn hiệu THE NORTH FACE, size XXL, đã qua sử dụng; 01 quần Jean dài, màu xanh, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
11
-
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Rô Đ các tài sản gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi 12C, gắn sim số 0788.309.221, số IMEI 1: 865509061213447, số IMEI 2: 865509061213454, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu tím, viền trắng, mặt trước áo có chữ “Pikes Peak-colorado”, size L, đã qua sử dụng; 01 quần Jean dài, màu xanh, trên lưng quần ghi hiệu “ART OF DENIM, size 32, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki, số loại Axelo màu xanh - trắng, biển số 79H1-249.06, số máy: F4CB-110357, số khung: F4510D0110350, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 dụng cụ mở khóa bằng kim loại, kích cỡ 08mm, đã qua sử dụng và 04 đoãn tự chế bằng kim loại, dài 7,5 cm; 01 biển số 51N1-0669.
- Đối với vật chứng là 02 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng tổng chiều dài 10,5cm, trên có ký hiệu "THUTAI600" và "VL" được xử lý theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu (Theo Thông báo số 99/ĐTTH ngày 04/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T), nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì giải quyết cho nhận lại theo thủ tục chung; hết thời hạn trên, vật chứng là tài sản trên sẽ được sung vào ngân sách Nhà nước.
- Các vật chứng nêu trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số 29/Qđ-VKSTT ngày 10/7/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ mỗi người nộp 200.000đ án phí sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Về quyền và thời hạn kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo Phan Đức P, Nguyễn Rô Đ được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Phan Thị Kim S được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Ông Trần Tấn T1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về cướp giật tài sản
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phú, bị cáo Đum cùng đi cướp giật tài sản thì bị bắt
