TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 39/2024/DS-ST Ngày: 06/6/2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba.
Bà Lê Thị Ánh Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án thụ lý số 239/2019/TLST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2019 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 319/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Thông báo dời thời gian xét xử số 785/2024/TB-TA ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1982 (có mặt)
- Địa chỉ: Số A, ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn:
- Bà Đặng Thị H, sinh năm 1985 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Tổ G, khu B, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Tổ G, khu B, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ngô Trường A, sinh năm 1978 (vắng mặt).
- Địa chỉ: A, ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1981 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Tổ G, khu B, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Cháu Nguyễn Văn Ý H2, sinh năm 2009 (vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Thị Nhã U, sinh năm 2013 (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho cháu H2, cháu U: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1985 và ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1981.
- Cùng địa chỉ: Tổ G, khu B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1984 (có mặt).
- Địa chỉ: Tổ G, khu B, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Cháu Nguyễn Đỗ Cẩm H4, sinh năm 2007 (vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L, sinh năm 2016 (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho cháu H4, cháu L: Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1987 và ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1984.
- Cùng địa chỉ: Tổ G, khu B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Trương Văn T2, sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Bà Đỗ Thị T3, sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Khu C, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trần Thị Hải Y, sinh năm 1976 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Đức T4, sinh năm 1976 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Khu E, ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1989 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp A, xã S (nay là ấp S, xã B), huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 6 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị T trình bày:
Tháng 05/2018 bà và ông Trần Văn H5, sinh năm 1985, địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có thỏa thuận chuyển nhượng phần đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa 95, tờ bản đồ số 25, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên do thời điểm này phần đất vẫn đang đứng tên ông Nguyễn Thanh T5 nên hai bên có thỏa thuận là khi ký hợp đồng công chứng sẽ ký trực tiếp từ ông T5 qua cho bà. Sau khi thống nhất thì ngày 08/5/2018 bà và ông Nguyễn Thanh T5 có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng C, tỉnh Đồng Nai. Do thời điểm chuyển nhượng bà sắp sinh nên không vào phần đất để kiểm tra và cắm mốc ranh. Bà đã thanh toán đầy đủ tiền cho ông H5 và làm hồ sơ xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 17/5/2018 bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 292151 diện tích 97,5 m² thuộc thửa 95, tờ bản đồ số 25, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Cuối tháng 11/2018 ông H5 có dẫn bà xuống phần đất để chỉ ranh, thời điểm đó ông H5 chỉ cho bà phần đất mà bà nhận chuyển nhượng là phần đất trống, không có công trình tài sản gì.
Khoảng tháng 12/2018 bà có yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1 tiến hành cắm ranh mốc để bà xây dựng hàng rào. Khi tiến hành đo đạc thì mới phát hiện ra phần đất thuộc thửa 95, tờ bản đồ số 25 không phải là phần đất trống mà ông H5 đã chỉ dẫn cho bà. Phần đất thuộc thửa 95, tờ bản đồ số 25 xã A đã có người xây dựng nhà. Khi phát hiện bà có tìm hiểu thì mới biết phần đất của bà đã bị bà Đặng Thị H và bà Đỗ Thị H1 xây dựng nhà trên toàn bộ phần đất này. Tháng 01/2019 bà có làm đơn khiếu nại yêu cầu UBND xã A giải quyết tranh chấp, tuy nhiên phía bà H, bà H1 không đồng ý trả lại đất cho bà nên đến tháng 06/2019 bà làm đơn khởi kiện ra Tòa.
Nay bà yêu cầu Tòa án buộc gia đình bà Đặng Thị H phải tháo dỡ căn nhà và trả lại cho bà phần đất lấn chiếm diện tích 25,4 m² thuộc thửa 95c, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (12, K, H, D, E, G, 11, 12); Yêu cầu gia đình bà Đỗ Thị H1 phải tháo dỡ căn nhà và trả lại cho bà phần đất lấn chiếm diện tích 70,1 m² thuộc thửa 95a, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (13, A, B, C, D, H, K, 12, 13) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1. Đối với phần đất 02 m² thuộc thửa 95b qua kiểm tra hiện trạng thì bà H, bà H1 không quản lý, sử dụng mà nay là con đường đi nên bà xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, bà không yêu cầu bà H, bà H1 phải trả lại phần đất 02 m² thuộc thửa 95b.
Phần diện tích đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng bà, chồng bà tên Ngô Trường A.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đặng Thị H trình bày:
Ngày 30/01/2015 vợ chồng bà có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Trương Văn T2, bà Đỗ Thị T3. Theo đó vợ chồng ông T2, bà T3 chuyển nhượng cho vợ chồng bà phần đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa số 96, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, giá chuyển nhượng là 300.000.000 đồng. Thời điểm chuyển nhượng thì phần đất nêu trên đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T2, bà T3. Hiện trạng lúc chuyển nhượng thì phía ông T2, bà T3 đã xây nhà trên toàn bộ phần đất. Khi chuyển nhượng thì bà có đem theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lên phòng Tài nguyên và môi trường huyện L để hỏi thì được trả lời là đất không có tranh chấp. Sau đó hai bên thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng C tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng bà đã thanh toán đầy đủ tiền cho ông T2, bà T3 và nhận nhà và đất sử dụng từ thời điểm đó đến nay. Bà xác định khi nhận chuyển nhượng thì hai bên tự bàn giao hiện trạng ranh mốc đất theo đúng hiện trạng căn nhà mà ông T2, bà T3 xây dựng chứ hai bên cũng không yêu cầu đo đạc cắm mốc lại.
Ngày 27/5/2015 vợ chồng bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 414159 đối với phần đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa số 96, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng tháng 08/2019 thì bà Võ Thị T cho rằng vợ chồng bà xây nhà lấn đất của bà T nên khiếu nại ra UBND xã A, tuy nhiên các bên hòa giải không được nên bà T khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải tháo dỡ căn nhà và trả lại cho bà T phần đất lấn chiếm diện tích 25,4 m² thuộc thửa số 95, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1). Bà không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, bởi vì vợ chồng bà mua nhà và đất theo đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi vợ chồng bà nhận chuyển nhượng thì đã có sẵn căn nhà trên đất chứ vợ chồng bà không phải là người xây nhà. Vợ chồng bà không có yêu cầu phản tố gì trong vụ án này.
- Tại bản tự khai ngày 17/9/2019 và biên bản lấy lời khai ngày 27/9/2019 bị đơn bà Đỗ Thị H1 trình bày:
Bà đang sử dụng diện tích đất 97,5 m² thuộc thửa 97, tờ bản đồ số 25, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất vào tháng 08/2012. Về nguồn gốc do bà nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Hải Y với giá 135.000.000 đồng. Đến năm 2013 bà xây 01 ngôi nhà cấp 4 trên đất và sử dụng đến nay. Khi chuyển nhượng bà chỉ nghe bà Y nói là lô thứ 3 từ trong cột điện ra và có ông Tuấn H6 nhà ở cạnh cây xăng Đồng Nai, phường T, thành phố B chỉ ranh đất. Sau khi chỉ đất thì bà vào sử dụng luôn chứ không kiểm tra đo đạc lại.
Tháng 11/2018 bà Võ Thị T có xuống nhà bà và cắm mốc để đo đất, bà T nói là bà đã xây nhà trên đất của bà T. Khoảng 01 tháng sau thì bà T kêu cán bộ địa chính xuống đo đất. Sau đó UBND xã A mời hòa giải nhưng không thành.
Nay bà T khởi kiện thì bà có ý kiến như sau: Nếu trường hợp bà xây nhà trên đất bà T thì bà sẽ trả lại và yêu cầu ông H6 phải bồi thường chi phí xây dựng cho bà vì ông H6 chỉ ranh đất sai.
Tại bản tự khai ngày 25/10/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Trường A trình bày:
Ông và bà Võ Thị T là vợ chồng, vào tháng 05/2018 vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa 95, tờ bản đồ số 25, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai từ ông Nguyễn Thanh T5. Do thời điểm đó ông đang làm ăn ở xa nên vợ ông là bà Võ Thị T trực tiếp ký hợp đồng với ông T5. Đến ngày 17/5/2018 bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 292151. Ông xác định phần đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng. Nay bà T khởi kiện buộc bà Đặng Thị H và bà Đỗ Thị H1 phải trả lại phần đất tranh chấp diện tích khoảng 95,5 m² thuộc thửa 95, tờ bản đồ số 25, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1) thì ông hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T, ông không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án.
Tại bản tự khai ngày 10/11/2019 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T1 trình bày:
Vào khoảng tháng 10/2014 gia đình ông có mua nhà (vừa đất có nhà xây sẵn) của vợ chồng ông Trương Văn T2, bà Đỗ Thị T3. Gia đình ông ở hoạt động bình thường thì vào tháng 11/2018 bà T đến bảo là nhà ông xây lên phần đất của bà. Bà T dẫn người đến đo đạc xung quanh nhà kể cả khi gia đình ông vắng nhà.
Nay bà T khởi kiện thì ông không đồng ý, bởi vì thời điểm ông mua lại nhà đất thì ông T2, bà T3 đã xây nhà từ rất lâu rồi khi đó không ai tranh chấp. Khi ông T2, bà T3 làm nhà đã đo đạc rồi, nếu có tranh chấp thì ông T2, bà T3 và chủ phân lô phải có trách nhiệm.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H3 trình bày:
Ngày 19/7/2012 vợ chồng ông có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Trần Thị Hải Y và ông Nguyễn Đức T4. Theo đó vợ chồng bà Y, ông T4 chuyển nhượng cho vợ chồng ông phần đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa số 97, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, giá chuyển nhượng là 145.000.000 đồng. Thời điểm chuyển nhượng thì phần đất nêu trên đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Y, ông T4. Hiện trạng lúc chuyển nhượng thì phần đến nêu trên là đất trống. Hai bên thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng C tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng ông đã thanh toán đầy đủ tiền cho bà Y, ông T4. Sau khi thanh toán xong tiền thì ông có yêu cầu bà Y, ông T4 ra chỉ ranh bàn giao hiện trạng đất thì bà Y, ông T4 nói là để ông H6 (không biết họ và địa chỉ) ra chỉ ranh đất cho vợ chồng ông. Khi ra đến hiện trạng phần đất thì ông H6 chỉ ranh cho vợ chồng ông là phần đất ngang 5m theo vạch sơn đỏ chứ không được xây ở vị trí khác. Ông xác định khi nhận chuyển nhượng thì hai bên tự bàn giao hiện trạng ranh mốc đất theo sự chỉ ranh của ông H6 chứ hai bên cũng không yêu cầu đo đạc cắm mốc.
Đến ngày 03/8/2012 vợ ông là Đỗ Thị H1 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1 cập nhật sang tên tại trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 160887 đối với phần đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa số 97, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng giữa năm 2013 vợ chồng ông tiến hành xây nhà, thời điểm xây nhà do ông bị bệnh nên không ra được phần đất nên ông có nói ông H6 ra chỉ ranh cho vợ và bố vợ ông tiến hành xây nhà. Từ khi xây nhà đến trước thời điểm tháng 07/2019 thì không có ai tranh chấp gì với vợ chồng ông.
Khoảng tháng 08/2019 thì bà Võ Thị T khiếu nại ra UBND xã A sau đó các bên hòa giải không được thì bà T khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải tháo dỡ căn nhà và trả lại cho bà T phần đất lấn chiếm diện tích là 70,1 m² thuộc thửa số 95a, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1). Ông không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, bởi vì: Khi ông mua đất thì chủ đất chỉ ở đâu thì ông xây ở đó, còn việc chủ đất chỉ lấn ranh hay không thì ông không biết.
Vợ chồng ông không có yêu cầu phản tố gì trong vụ án này.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/5/2021 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T2 trình bày:
Ông và bà Đỗ Thị T3 là vợ chồng, vào khoảng năm 2011 – 2012 vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng của ông Trần H7 (không rõ năm sinh và địa chỉ hiện nay) một phần đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 25, xã A, huyện L với giá 120.000.000 đồng. Khi ông nhận chuyển nhượng ông H7 chịu trách nhiệm sang tên chuyển quyền và chỉ ranh mốc cho ông. Sau khi ông H7 chỉ ranh mốc đất, ông đã tiến hành xây dựng 01 căn nhà cấp 4 trên đất. Ngày động thổ xây nhà, ông có mời ông H7 chứng kiến và chỉ ranh mốc, ông xây nhà đúng theo ranh mốc mà ông H7 chỉ dẫn. Sau khi xây nhà xong thì ông sử dụng nhà và đất không có tranh chấp với ai.
Đầu năm 2015 vợ chồng ông chuyển nhượng lại phần đất và nhà nêu trên cho bà Đặng Thị H và ông Nguyễn Anh T1 với số tiền khoảng 300.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông đã bàn giao đất và nhà cho ông T1, bà H sử dụng cho đến nay.
Nay nhà và đất đang tranh chấp, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông có ý kiến như sau: Việc xây nhà lấn đất này là do ông Trần H7 chỉ ranh và ông xây theo sự chỉ dẫn của ông H7 để xây nhà chứ không phải cố tình xây lấn đất nên ông H7 phải có trách nhiệm trong việc này. Nếu trường hợp bà H phải tháo dỡ nhà để trả đất thì ông H7 phải có trách nhiệm về việc này với bà H.
Tại bản tự khai ngày 22/5/2021 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T3 trình bày:
Bà thống nhất hoàn toàn lời khai của chồng bà là ông Trương Văn T2.
Tại bản tự khai ngày 22/3/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T5 trình bày:
Ngày 15/6/2012 tại Phòng C, tỉnh Đồng Nai, ông có nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị Hải Y và ông Nguyễn Đức Toàn p đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa số 95, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L. Thời điểm chuyển nhượng ông chỉ xem vị trí đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không đo đạc vị trí thực tế, khi mua chưa có công trình liền kề.
Ngày 08/5/2018 ông chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất diện tích 97,5 m² thuộc thửa số 95, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L cho bà Võ Thị T. Việc chuyển nhượng có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng C. Thời điểm chuyển nhượng cho bà T thì ông cũng không yêu cầu địa chính xác định đo đạc lại vị trí đất mà chỉ chuyển nhượng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lô đất trống cho bà T.
Đối với yêu cầu khởi kiện hiện nay của bà T về việc buộc bà Đỗ Thị H1 và bà Đặng Thị H phải tháo dỡ công trình xây dựng và trả lại phần đất lấn chiếm cho bà T thì ông không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Tháng 05/2018, bà T có nhận chuyển nhượng lại thửa đất số 95, tờ bản đồ số 25, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của ông Trần Văn H5 (ông H5 nhận chuyển nhượng từ ông T5, đất đang do ông Nguyễn Thanh T5 đứng tên). Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, bà không xem đất mà chỉ ra Phòng công chứng số 4 để công chứng giao tiền và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà hẹn chủ đất là ông H5 khi có thời gian thì chỉ ranh đất cho bà. Ngày 17/5/2018, bà được Sở T cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số CN 292151 đứng tên Võ Thị T. Đến ngày 08/12/2018, bà nhờ Văn phòng Đăng ký đất đai – Chi nhánh L1 đo đạc và cắm mốc ranh giới thửa đất số 95, tờ bản đồ số 25 thì phát hiện có 02 ngôi nhà xây dựng lấn chiếm đất của bà. Ngôi nhà thứ nhất của bà Đặng Thị H, ngôi nhà thứ 2 của bà Đỗ Thị H1. Ngày 05/6/2019 bà T khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc bà H phải tháo dỡ căn nhà, trả lại cho bà diện tích khoảng 48,75 m² (ngang 2,5m dài 19,5m) thuộc thửa đất số 95. Buộc bà H1 phải tháo dỡ căn nhà, trả lại cho bà diện tích khoảng 48,75 m² (ngang 2,5m dài 19,5m) thuộc thửa đất số 95.
Trên căn cứ trình bày của các đương sự, có đầy đủ cơ sở xác định khi nhận chuyển nhượng đất từ ông T2, bà T3 và từ bà Y, ông T4; vợ chồng bà H và vợ chồng bà H1 đều biết rõ phần đất chuyển nhượng có diện tích 97,5 m² thuộc thửa 96 và thửa 97, tờ bản đồ số 25, xã A, huyện L không phải phần đất thuộc thửa 95 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Võ Thị T. Do đó, việc bà H, bà H1 cho rằng mình đã sử dụng đúng vị trí thửa đất đã nhận chuyển nhượng từ các chủ đất là không có cơ sở. Bị đơn bà H, bà H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T; bị đơn bà H, bà H1 cho rằng gia đình các bà cất nhà trên đất của bà H, bà H1 mua.
Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số: 12062/2019 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh huyện L ngày 20 tháng 12 năm 2019, phần đất các đương sự tranh chấp có diện tích 95,5 m² thuộc thửa 95 (thuộc thửa tạm 95a có diện tích 70,1m²; thửa tạm 95c diện tích 25,4m², tờ bản đồ số 25, xã A) đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị T.
Mặt khác, theo lời khai của vợ chồng bà H - ông Anh T1 khi nhận chuyển nhượng đất từ ông T2 – bà T3 hai bên tự bàn giao hiện trạng ranh mốc đất theo đúng hiện trạng căn nhà mà ông T2, bà T3 xây dựng chứ hai bên cũng không yêu cầu đo đạc cắm mốc lại.
Theo lời khai của vợ chồng bà H1 – ông H3: Khi nhận chuyển nhượng đất thì chỉ nghe bà Y nói là lô thứ 3 từ trong cây cột điện ra và có ông Tuấn H6 nhà ở cạnh cây xăng Đồng Nai chỉ ranh đất. Sau khi chỉ đất thì bà vào sử dụng luôn chứ không kiểm tra, đo đạc lại. Các bên tự bàn giao hiện trạng ranh mốc đất, hai bên cũng không yêu cầu đo đạc cắm mốc trên thực tế.
Việc bà H, bà H1 xây dựng nhà trên đất của người khác đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vi phạm theo quy định tại Điều 12 Luật đất đai 2013 và khoản 3 Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP Theo Điều 12 Luật đất đai 2013, các hành vi sau bị nghiêm cấm:
- Lấn chiếm, hủy hoại đất đai.
- Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố.
Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP như sau:
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
- Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;
- Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2...".
Bị đơn bà H, bà H1 xây nhà trên đất của bà T là vi phạm pháp luật đất đai và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lấn, chiếm đất; ngoài ra còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục tình trạng đất trước khi vi phạm, buộc trả lại phần đất đã lấn, chiếm”
Quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã A về quá trình sử dụng đất của bà T, bà H, bà H1: Bà T, bà H, bà H1 không có trình báo về vấn đề tranh chấp. Khi xây dựng nhà bà H, bà H1 tại địa phương, chính quyền xã A không nhận được thông báo khởi công xây dựng hay giấy phép xây dựng liên quan đến phần đất của bà H, bà H1 nên địa phương không biết.
Xét thấy thửa đất số 95 nguyên đơn nhận chuyển nhượng, có vị trí, ranh đất và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Thửa đất của nguyên đơn bà T sử dụng là thửa 95, tờ bản đồ số 25 trong khi thửa đất của bị đơn bà H là thửa 96, tờ bản đồ số 25; thửa đất của bị đơn bà H1 sử dụng là thửa đất số 97, tờ bản đồ 25; cả 03 thửa đất có vị trí hoàn toàn khác nhau. Việc bị đơn bà H, bà H1 xây dựng nhà trên đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà T là do lỗi của bị đơn. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T về việc buộc bị đơn bà H, bà H1 tháo dỡ nhà và công trình xây dựng trái phép trên diện tích đất 95,5 m² thuộc thửa 95, tờ bản đồ số 25, xã A để trả lại đất cho vợ chồng bà sử dụng là có căn cứ.
Từ những phân tích trên đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản gắn liền với đất”.
Buộc bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1, cháu Nguyễn Văn Ý H2, cháu Nguyễn Thị Nhã U (do ông T1, bà H đại diện) phải giao trả lại phần diện tích đất 25,4m² thửa tạm 95c cho bà Võ Thị T, ông Ngô Trường A sử dụng.
Buộc bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3, cháu Nguyễn Đỗ Cẩm H4, cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L (do ông H3, bà H1 đại diện) phải giao trả lại phần diện tích đất 70,1m² thửa tạm 95a cho bà Võ Thị T, ông Ngô Trường A sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Đặng Thị H, bà Đỗ Thị H1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T1, bà Trần Thị Hải Y, ông Nguyễn Đức T4, cháu Nguyễn Văn Ý H2, Nguyễn Thị Nhã U (do bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1 làm đại diện hợp pháp); Cháu Nguyễn Đỗ Cẩm H4, Nguyễn Đỗ Ngọc L (do bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3 đại diện hợp pháp) đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T2, bà Đỗ Thị T3, ông Nguyễn Thanh T5, ông Ngô Trường A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.
- Về thẩm quyền giải quyết: Phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện L tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật: Quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2019 nguyên đơn bà Võ Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đặng Thị H phải tháo dỡ căn nhà và trả lại cho bà diện tích khoảng 48,75 m². Buộc bà Đỗ Thị H1 phải tháo dỡ căn nhà và trả lại cho bà diện tích khoảng 48,75 m² thuộc thửa đất số 95, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà T yêu cầu Tòa án buộc gia đình bà Đặng Thị H phải tháo dỡ căn nhà và trả lại cho bà diện tích khoảng 25,4 m² thuộc thửa 95c, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (12, K, H, D, E, G, 11, 12). Yêu cầu gia đình bà Đỗ Thị H1 phải tháo dỡ căn nhà và trả lại cho bà diện tích khoảng 70,1 m² thuộc thửa 95a, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (13, A, B, C, D, H, K, 12, 13) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1. Đối với phần đất 02 m² thuộc thửa 95b qua kiểm tra hiện trạng thì bà H, bà H1 không quản lý, sử dụng mà nay là con đường đi nên bà T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, bà T không yêu cầu bà H, bà H1 phải trả lại phần đất 02 m² thuộc thửa 95b.
- Bị đơn bà Đặng Thị H, bà Đỗ Thị H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T1, ông Nguyễn Văn H3 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5]. Về nguồn gốc đất: Phần đất thuộc thửa 95, 96, 97, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được tách ra từ thửa đất số 60, tờ bản đồ 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, có nguồn gốc là do bà Trần Thị Hải Y nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn S theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã A chứng thực vào ngày 06/10/2011. Ngày 17/10/2011 bà Trần Thị Hải Y được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 506949. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Y tách thửa đất 60, tờ bản đồ số 25 thành 05 thửa nhỏ bao gồm thửa 93, 94, 95, 96, 97, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
[5.1] Về nguồn gốc phần đất thuộc thửa đất số 95, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai:
Ngày 09/3/2012 Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 160883 cho bà Trần Thị Hải Y đối với thửa đất số 95, tờ bản đồ số 25 diện tích 97,5 m² xã A. Ngày 15/6/2012 bà Trần Thị Hải Y, ông Nguyễn Đức T4 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh T5 toàn bộ thửa đất nêu trên. Ngày 29/6/2012 Phòng tài nguyên môi trường huyện L cập nhật trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên ông Nguyễn Thanh T5.
Ngày 08/5/2018 ông Nguyễn Thanh T5 chuyển nhượng lại phần đất thuộc thửa số 95, tờ bản đồ số 25 diện tích 97,5 m² xã A cho bà Võ Thị T. Ngày 17/5/2018 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thừa ủy quyền giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 292151 thửa số 95, tờ bản đồ số 25 diện tích 97,5 m² xã A cho bà Võ Thị T.
[5.2] Về nguồn gốc phần đất thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai:
Ngày 09/3/2012 Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 160884 cho bà Trần Thị Hải Y thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25 diện tích 97,5 m² xã A. Ngày 29/8/2012 bà Trần Thị Hải Y, ông Nguyễn Đức T4 chuyển nhượng cho ông Trương Văn T2, bà Đỗ Thị T3 toàn bộ thửa đất nêu trên. Ngày 05/10/2012 Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 797714 cho ông Trương Văn T2 và bà Đỗ Thị T3 thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25 diện tích 97,5 m² xã A
Ngày 22/01/2015 ông T2, bà T3 chuyển nhượng lại phần đất thuộc thửa đất số 95, tờ bản đồ số 25 diện tích 97,5 m² xã A cho ông Nguyễn Anh T1, bà Đặng Thị H. Ngày 30/01/2015 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 414159 thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25 diện tích 97,5 m² xã A cho ông Nguyễn Anh T1, bà Đặng Thị H.
[5.3] Về nguồn gốc phần đất thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai:
Ngày 09/3/2012 Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 160887 cho bà Trần Thị Hải Y thửa đất số 97, tờ bản đồ số 25 diện tích 97,5 m² xã A. Ngày 19/7/2012 bà Trần Thị Hải Y, ông Nguyễn Đức T4 chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị H1 toàn bộ thửa đất nêu trên. Ngày 03/8/2012 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1 cập nhật trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên bà Đỗ Thị H1.
[6]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T thì thấy rằng:
Ngày 10/12/2019 Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ theo sự chỉ dẫn của nguyên đơn bà Võ Thị T và bị đơn bà Đặng Thị H, bà Đỗ Thị H1. Ngày 20/12/2019 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1 có bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019. Theo đó phần đất bà T tranh chấp với bà Đỗ Thị H1 có diện tích là 70,1 m² thuộc thửa 95a, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (13, A, B, C, D, H, K, 12, 13). Phần đất bà T tranh chấp với bà Đặng Thị H có diện tích là 25,4 m² thuộc thửa 95c, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (12, K, H, D, E, G, 11, 12). Các thửa đất 95a, 95c là một phần thửa 95 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 292151 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/5/2018 cho bà Võ Thị T.
Theo các tài liệu, chứng cứ do Ủy ban nhân dân huyện L cung cấp thể hiện các thửa đất số 95, 96, 97 tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 09/3/2012 cho bà Trần Thị Hải Y, các phần đất đều có ranh mốc rõ ràng. Sau khi nhận chuyển nhượng lại các phần đất nêu trên thì bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1 và bà Đỗ Thị H1 đã được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng ranh mốc và diện tích của bản đồ địa chính.
Tại văn bản số 5504/UBND-NC ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện L xác định: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 95, 96, 97 tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai là đúng trình tự, thủ tục quy định.
Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc thực tế được thể hiện tại bản đồ hiện trạng số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1 thì hiện nay căn nhà mà gia đình bà H và gia đình bà H1 đang quản lý sử dụng lấn sang toàn bộ thửa đất số 95, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/5/2018 cho bà Võ Thị T. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đặng Thị H, bà Đỗ Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T1, ông Nguyễn Văn H3, ông Trương Văn T2, bà Đỗ Thị T3 đều xác định khi nhận chuyển nhượng và xây nhà trên các phần đất thuộc thửa 96, 97 tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì các bên không yêu cầu cơ quan chuyên môn đo đạc kiểm tra, cắm mốc xác định ranh giới đất. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc phía bị đơn xây dựng không đúng vị trí đất theo bản đồ địa chính đã được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh”.
Điều 170 Luật đất đai năm 2013 cũng quy định nghĩa vụ chung của người sử dụng đất là phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất.
Khoản 5 Điều 166 Luật đất đai năm 2013 quy định về quyền chung của người sử dụng đất. Theo đó người sử dụng đất được nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.
Từ những phân tích trên có đủ căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T về việc buộc gia đình bà Đỗ Thị H1 phải trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích là 70,1 m² thuộc thửa 95a, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (13, A, B, C, D, H, K, 12, 13). Buộc gia đình bà Đặng Thị H phải trả diện tích là 25,4 m² thuộc thửa 95c, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (12, K, H, D, E, G, 11, 12) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1 là có cơ sở chấp nhận.
Bị đơn bà Đặng Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T1 cho rằng năm 2014 khi ông, bà nhận chuyển nhượng lại phần đất thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L thì từ ông T2, bà T3 thì đã có nhà sẵn, ông bà quản lý sử dụng theo đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Bị đơn bà Đỗ Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H3 thì cho rằng khi vợ chồng ông, bà mua đất thì chủ đất chỉ ở đâu thì ông xây ở đó, còn việc chủ đất chỉ lấn ranh hay không thì ông, bà không biết. Do đó phía bị đơn không đồng ý trả lại phần đất theo yêu cầu của nguyên đơn. Lời khai của phía bị đơn và người liên quan là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì phần đất mà các bên nhận chuyển nhượng đã được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có ranh mốc rõ ràng. Pháp luật cũng quy định rõ các chủ thể chỉ được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt đối với phần đất của mình đúng theo ranh giới thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc gia đình bà Đặng Thị H, bà Đỗ Thị H1 quản lý, sử dụng không đúng phần diện tích đất đã được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 12 Luật đất đai năm 2013. Do đó cần buộc gia đình bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1 và bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3 phải trả lại phần đất đã lấn chiếm cho bà Võ Thị T, ông Ngô Trường A.
[7]. Đối với công trình tài sản do gia đình bà Đỗ Thị H1 xây dựng gồm nhà ở gia đình 1 có diện tích 84,9 m² có kết cấu nền lát gạch ceramic; móng gạch; cột gạch; tường xây gạch dày 100 sơn nước; xà gồ sắt hộp; trần tôn lạnh, mái lợp tôn; cửa đi khung sắt kính và mái che diện tích 15,8 m² kết cấu nền xi măng; cột tròn D=60; tường xây gạch cao khoảng 1m; hàng rào khung sắt hộp, một phần bịt tôn; cổng khung sắt hộp; xà gồ sắt, mái lợp tôn (theo chứng thư thẩm định giá tài sản số 158/CT-THM ngày 12/3/2020 của Công ty cổ phần T6 Mới). Theo kết quả đo vẽ thể hiện căn nhà số A và mái mái che do gia đình bà Đỗ Thị H1 xây dựng lấn sang thửa số 95, tờ bản đồ số 25 xã A với diện tích là 70,1 m² được giới hạn bởi các mốc (13, A, B, C, D, H, K, 12, 13).
[8]. Đối với công trình tài sản do gia đình bà Đặng Thị H xây dựng gồm nhà ở gia đình 2 có diện tích 79,6 m² có kết cấu nền lát gạch ceramic; móng gạch; cột gạch; tường xây gạch dày 100 ốp gạch men Ceramic cao khoảng 1,2m phía trên sơn nước; xà gồ sắt hộp; trần tôn lạnh, mái lợp tôn; cửa đi khung sắt kính; gác lửng: xà gồ sắt hộp, sàn ván gỗ, cầu thang khung sắt và mái che diện tích 17,3 m² kết cấu nền xi măng; cột tròn D=60; tường xây gạch cao khoảng 1m; hàng rào khung sắt hộp, một phần bịt tôn; cổng khung sắt hộp; xà gồ sắt, mái lợp tôn (theo chứng thư thẩm định giá tài sản số 158/CT-THM ngày 12/3/2020 của Công ty cổ phần T6 Mới). Căn nhà số B và mái mái che do gia đình bà Đặng Thị H xây dựng lấn sang thửa số 95, tờ bản đồ số 25, xã A với diện tích là 25,4 m² được giới hạn bởi các mốc (12, K, H, D, E, G, 11, 12).
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phía nguyên đơn bà Võ Thị T yêu cầu bị đơn tự tháo dỡ để trả lại phần đất cho nguyên đơn. Tại biên bản xác minh ngày 04/6/2021 Ủy ban nhân dân xã A xác định khi xây dựng nhà, chính quyền địa phương (UBND xã A) không nhận được thông báo khởi công xây dựng hay giấy phép xây dựng liên quan đến phần đất của bà Đặng Thị H và bà Đỗ Thị H1. Do phía bị đơn xây dựng nhà không có giấy phép xây dựng, mặt khác theo bản đồ hiện trạng thửa đất thì các phần tài sản nêu trên còn lấn sang các thửa đất khác. Nếu giao phần tài sản nêu trên cho phía bị đơn quản lý sử dụng sẽ gây khó khăn trong quá trình thi hành án cũng như trong việc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy để giải quyết vụ án một cách toàn diện thì cần buộc phía gia đình bị đơn bà Đỗ Thị H1, bà Đặng Thị H phải tháo dỡ công trình tài sản trên đất để trả lại hiện trạng đất như ban đầu cho bà Võ Thị T, ông Ngô Trường A.
[9]. Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1, bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3 phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[10]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự bị đơn bà Đặng Thị H, bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Anh T1, ông Nguyễn Văn H3 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 22.308.000 đồng. Trong đó bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3 phải trả lại cho bà T diện tích đất 70,1 m² nên phải chịu số tiền 15.615.600 đồng. Bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1 phải trả lại diện tích đất 25,4 m² nên phải chịu số tiền 6.692.400 đồng. Nguyên đơn bà Võ Thị T đã tạm nộp số tiền nêu trên nên bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1, bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3 phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền cho bà T.
[11]. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 12, 97, 99, 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013;
Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” của nguyên đơn bà Võ Thị T đối với bị đơn bà Đặng Thị H, bà Đỗ Thị H1.
- Buộc bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1, cháu Nguyễn Văn Ý H2, cháu Nguyễn Thị Nhã U (do ông T1, bà H đại diện) phải tháo dỡ một phần căn nhà có kết cấu nền lát gạch ceramic; móng gạch; cột gạch; tường xây gạch dày 100 ốp gạch men Ceramic cao khoảng 1,2m phía trên sơn nước; xà gồ sắt hộp; trần tôn lạnh, mái lợp tôn; cửa đi khung sắt kính; gác lửng: xà gồ sắt hộp, sàn ván gỗ, cầu thang khung sắt và mái che kết cấu nền xi măng; cột tròn D=60; tường xây gạch cao khoảng 1m; hàng rào khung sắt hộp, một phần bịt tôn; cổng khung sắt hộp; xà gồ sắt, mái lợp tôn (theo chứng thư thẩm định giá tài sản số 158/CT-THM ngày 12/3/2020 của Công ty cổ phần T6 Mới).
- Buộc bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1, cháu Nguyễn Văn Ý H2, cháu Nguyễn Thị Nhã U (do ông T1, bà H đại diện) trả cho bà Võ Thị T, ông Ngô Trường A phần đất diện tích 25,4 m² thuộc thửa 95c, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (12, K, H, D, E, G, 11, 12) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1.
- Buộc bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3, cháu Nguyễn Đỗ Cẩm H4, cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L (do ông H3, bà H1 đại diện) phải tháo dỡ một phần căn nhà có kết cấu nền lát gạch ceramic; móng gạch; cột gạch; tường xây gạch dày 100 sơn nước; xà gồ sắt hộp; trần tôn lạnh, mái lợp tôn; cửa đi khung sắt kính và mái che diện tích 15,8 m² kết cấu nền xi măng; cột tròn D=60; tường xây gạch cao khoảng 1m; hàng rào khung sắt hộp, một phần bịt tôn; cổng khung sắt hộp; xà gồ sắt, mái lợp tôn (theo chứng thư thẩm định giá tài sản số 158/CT-THM ngày 12/3/2020 của Công ty cổ phần T6 Mới).
- Buộc bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3, cháu Nguyễn Đỗ Cẩm H4, cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L (do ông H3, bà H1 đại diện) trả cho bà Võ Thị T, ông Ngô Trường A phần đất diện tích 70,1 m² thuộc thửa 95a, tờ bản đồ số 25 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (13, A, B, C, D, H, K, 12, 13) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 12062/2019 ngày 20/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L1.
- Về án phí: Bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm không có giá ngạch. Bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Hoàn trả cho bà Võ Thị T 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005460 ngày 22/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
- Về chi phí tố tụng: Bà Đặng Thị H, ông Nguyễn Anh T1 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 6.692.400 đồng. Do nguyên đơn bà Võ Thị T đã tạm nộp số tiền nên bà H, ông T1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho bà T số tiền nêu trên.
- Bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Văn H3 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 15.615.600 đồng. Do nguyên đơn bà Võ Thị T đã tạm nộp số tiền nên bà H1, ông H3 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho bà T số tiền nêu trên.
- Bà Võ Thị T, ông Nguyễn Văn H3 được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bà Đặng Thị H, bà Đỗ Thị H1, ông Nguyễn Anh T1, bà Trần Thị Hải Y, ông Nguyễn Đức T4, ông Trương Văn T2, bà Đỗ Thị T3, ông Nguyễn Thanh T5, ông Ngô Trường A được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận : T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thành |
Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Số bản án: 39/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
