|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 5 - 2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân không đăng ký kết hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lư Thành Danh
Ông Nguyễn Văn Mến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung– Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Nhu - Kiểm sát viên
Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST - HNGĐ, ngày 29.01.2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân không đăng ký kết hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 25.3.2024; quyết định hoãn phiên tòa số: 71/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 15.4.2024, giữa:
- Nguyên đơn: - Bà Lê Thị Yến N, sinh năm 1995. Có mặt
Địa chỉ: Số nhà P, khu chung cư E tầng L, khu vực 9, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: Số D, L, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: - Ông Võ Thanh T, sinh năm 1967. Vắng mặt
Địa chỉ: Số nhà P, khu chung cư E tầng L, khu vực 9, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24.8.2023 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn Lê Thị Yến N trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2018 bà Lê Thị Yến N và ông Võ Thanh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mục đích hôn nhân không đạt được nên hôn nhân không hạnh phúc, đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chồng không còn do giữa bà N và ông T không đăng ký kết hôn nên yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Yến N và ông ông Nguyễn Thanh T1.
- Về con chung: Bà N và ông T1 có 01 con chung tên Võ Bảo L, sinh ngày 18.02.2019, giới tính nữ. Hiện tại cháu L đang chung sống với bà N. Yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu L.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu.
Bị đơn ông Võ Thanh T đã Tòa án cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, cũng như của Hội đồng xét xử ngày hôm nay là đúng trình tự thủ tục luật định. Tuy nhiên vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử.
+ Về việc giải quyết vụ án: Các yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Yến N khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, yêu cầu nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại quận C, thành phố Cần Thơ. Do đó, quan hệ tranh chấp xác định là “Tranh chấp hôn nhân không đăng ký kết hôn, nuôi con chung” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo kết quả xác minh ông Võ Thanh T đang cư trú và sinh sống tại số P.009 chung cư 5 tầng Lô B, khu dân cư H, khu V, quận C, thành phố Cần Thơ. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Võ Thanh T.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Yến N và ông Võ Thanh T chung sống với nhau từ năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được. Xét thấy, bà N và ông T tự nguyện chung sống với nhau hai bên có đầy đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là vi phạm quy định của luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, hôn nhân giữa bà bà Lê Thị Yến N và ông Võ Thanh T không có giá trị pháp lý nên cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Lê Thị Yến N và ông Võ Thanh T là phù hợp pháp luật.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà N và ông T có 01 con chung tên Võ Bảo L, sinh ngày 18.02.2019, giới tính nữ. Bà N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, ông T đã được Tòa án cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có văn bản hay ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà N. Hiện tại cháu Bảo L do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, cháu L còn nhỏ lại là nữ. Do đó, giao cháu Bảo L cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định và hoàn cảnh sống của cháu L.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
[3] Về án phí án hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Yến N đối với ông Võ Thanh T.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Yến N và ông Võ Thanh T.
[2]. Về con chung: Giao Võ Bảo L, sinh ngày 18.02.2019, giới tính nữ cho bà Lê Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho ông T theo quy định pháp luật không ai được ngăn cản.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Võ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Yến N xác định không có tài sản chung và nợ chung.
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Yến N phải nộp 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số 0003231, ngày 24.01.2024 của chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố thành án phí. Bà N đã nộp xong.
[6]. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Vang |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hôn nhân không đăng ký kết hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân không đăng ký kết hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Yến N
