|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày 04-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Đôi
Bà Phan Thị Minh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị G, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn F, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Đồng Văn K, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 04 tháng 4 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Đồng Văn K từ ngày 09 tháng 01 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Đ, huyện K (Giấy chứng nhận kết hôn số 05). Vợ chồng chung sống đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, anh K theo bạn bè chơi bời, không quan tâm đến chị, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả nên chị phải về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 6 năm 2022 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin ly hôn anh K.
Về con chung: Anh chị có 01 con là Đồng Trần Phương U, sinh ngày 09/01/2011, đang do anh K nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị đồng ý giao cháu U cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, trên cơ sở nguyện vọng của cháu. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu U cho anh K mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Đồng Văn K vắng mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
Tại phiên tòa, chị G giữ nguyên nội dung, yêu cầu nêu trên và khai bổ sung: Khi chị về mẹ đẻ ở, chị rất muốn mang theo cháu U về nuôi dưỡng nhưng vì công việc cũng như chỗ ở của chị không đảm bảo cuộc sống cho cháu nên chị phải để cháu ở lại cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Do nhà mẹ đẻ chị và nhà anh K gần nhau nên mẹ con chị thường xuyên gặp nhau, chị vẫn quan tâm, lo chi phí cho cháu ăn học đầy đủ. Nay nguyện vọng của cháu U muốn ở với anh K, chị đồng ý giao cháu U cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh K1, mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị G, cho chị Trần Thị G được ly hôn anh Đồng Văn K.
- Về con chung: Giao cháu Đồng Trần Phương U, sinh ngày 09/01/2011 cho anh Đồng Văn K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; chị G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu U cho anh K, mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 đồng án phí về ly hôn và 300.000 đồng án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị G xin ly hôn anh Đồng Văn K và yêu cầu giải quyết nuôi con tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Anh K đang cư trú tại xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
[2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, trên cơ sở lời khai và yêu cầu của nguyên đơn; Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh K (bị đơn) nhưng anh K không đến Tòa án để trình bày lời khai; tham gia hòa giải; từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do chính đáng, đến giai đoạn chuẩn bị xét xử; Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đối với anh K nhưng anh K vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị G xin ly hôn anh Đồng Văn K; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chính quyền xã Đ cung cấp thì hôn nhân của chị Trần Thị G và anh Đồng Văn K là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2022, do bất đồng quan điểm sống, không thống nhất trong làm ăn kinh tế, anh K ham chơi không quan tâm đến vợ, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, chị G đã về nhà mẹ đẻ ở từ giữa năm 2022 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của anh chị thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; yêu cầu xin ly hôn của chị G có cơ sở chấp nhận nên xử cho chị G được ly hôn anh K là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung là Đồng Trần Phương U, sinh ngày 09/01/2011, đang do anh K nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị G đồng ý giao cháu U cho anh K được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của chị G và chính quyền xã Đ cung cấp thì hiện nay anh K làm công nhân, thu nhập trung bình 10.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định. Khi chị G bỏ về nhà mẹ đẻ ở, cháu U được anh K nuôi dưỡng rất tốt, đảm bảo, đầy đủ điều kiện cho cháu có cuộc sống ổn định, bên cạnh đó còn có sự giúp đỡ của bố mẹ đẻ anh K; mặt khác, nguyện vọng của cháu U được ở với anh K. Do đó cần giao cháu U cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị G tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho anh K mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi cháu đủ 18 tuổi, là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Trần Thị G không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.
[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị G được ly hôn anh Đồng Văn K.
2. Về con chung: Giao cháu Đồng Trần Phương U, sinh ngày 09/01/2011 cho anh Đồng Văn K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Trần Thị G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu U cho anh Đồng Văn K mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; thời gian tính từ tháng 8 năm 2024.
Sau khi ly hôn, chị Trần Thị G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Đồng Văn K cho đến khi thi hành án xong khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì chị Trần Thị G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Trần Thị G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007887 ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Chị Trần Thị G còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị G có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Đồng Văn K có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử
