|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày 04/7/2024 “V/v: tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐĂK LĂK
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Ông Y Lợi Niê
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Y Tha Mlô và bà Trần Thị Thanh Thẩm
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M'gar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2024/TLST–HNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2024, về việc: “tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXX-ST ngày 05/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024//QÐST-HNGĐ ngày 26/6/2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị H Ri Đ Rcăm – Sinh năm: 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
-
- Bị đơn: Anh Ngô Văn T – Sinh năm: 1987 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Buôn Ea M'dr, xã Ea M'dr, huyện CM, tỉnh ĐL
NỘI DUNG VỤ ÁN;
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị H Ri Đ Rcăm trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H Ri Đ Rcăm và anh Ngô Văn T đến với nhau trên cơ sở hai bên tự nguyện và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 29/8/2008 tại Uỷ ban nhân dân xã Ea M’Dr, huyện CM.
Về tình cảm vợ chồng, lúc đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên khoảng thời gian năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm và lối sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, đặc biệt là anh T không có trách nhiệm với gia đình, lâm vào cuộc chơi xa đoạ, nghiện ngập. Từ đó cuộc sống vợ chồng không hòa hợp được với nhau nữa, dẫn đến việc xung đột, cãi vã, vì thế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị H Ri Đ đề nghị tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Ngô Văn T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là cháu cháu Ngô Quang K, sinh ngày 20/6/2008 và cháu Ngô Anh Tr Rcăm, sinh ngày 01/01/2016, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, hiện các cháu đang sống cùng chị H Ri Đ, từ khi ly thân đến nay 02 cháu đều sống cùng chị H Ri Đ, nguyện vọng của chị H Ri Đ xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H Ri Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí LHST: Chị H Ri Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn anh Ngô Văn T: Quá trình giải quyết vụ án và Tại phiên Toà, mặc dù Tòa án niêm yết thông báo thụ lý, phiên họp, phiên hoà giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên Toà cho anh T theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh T cố tình lẩn tránh, không tham gia phiên họp, phiên hoà giải và không tham gia phiên toà, vì vậy Toà án không ghi nhận được lời khai cũng như ý kiến, quan điểm của anh T.
* Cháu Ngô Quang K trình bày: Cháu là con của ông Ngô Văn T, bà H Ri Đ Rcăm, hiện cháu đã nghỉ học và đang sống cùng mẹ, phụ giúp mẹ về kinh tế gia đình để nuôi em. Trong cuộc sống hàng ngày cháu thấy bố cháu làm nghề tự do, sau này cháu nghe thông tin bố cháu nghiện ma tuý, bị công an bắt đi cai nghiện, bố cháu không phụ giúp gì trong kinh tế gia đình nên bố mẹ cháu thường bất hoà, có lần bố có hành động đánh mẹ cháu.
Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là muốn ở với mẹ, vì mẹ có thể nuôi và chăm sóc con tốt hơn bố.
* Cháu Ngô Anh Tr Rcăm trình bày: Cháu là con của ông Ngô Văn T, bà H Ri Đ Rcăm, hiện cháu đang học lớp 2, trường Bùi Thị Xuân, xã Ea M'droh, huyện Cư M'gar.
Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của là muốn ở với mẹ, vì mẹ có thể nuôi và chăm sóc con tốt hơn bố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án:
Đối với Thẩm phán: Về cơ bản đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Đối với đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng; Bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật mà không có lý do chính đáng.
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 52, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, cần được chấp nhận, đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với bị đơn là “tranh chấp về hôn nhân và gia đình”; Theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp, cũng như kết quả xác minh thì anh Ngô Văn T có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại buôn Ea M'dr, xã Ea M'drh, huyện CM, tỉnh ĐL vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn có đơn xin được xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn: Mặc dù được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần hai không có lý do, do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự để xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H Ri Đ Rcăm với anh Ngô Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình. Quá trình duy trì cuộc sống hôn nhân, giữa chị H Ri Đ và anh T nảy sinh nhiều mâu thuẫn mà các bên không có biện pháp hòa giải hay ý thức khắc phục. Đặc biệt là giữa chị H Ri Đ và anh T cũng đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Nay chị H Ri Đ khẳng định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại biên bản xác minh ngày 06/5/2024 tại buôn Ea M'dr, xã Ea M'drh, huyện CM thì thể hiện về tình trạng hôn nhân giữa chị H Ri Đ và anh T hiện nay có những mâu thuẫn gia đình và vợ chồng đã sống ly thân, về tình hình cư trú thì anh T vẫn còn sinh sống tại địa phương nhưng cố tình lẫn tránh, không hợp tác. Vì vậy xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H Ri Đ là chính đáng nên cần chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Từ khi ly thân đến nay cháu Ngô Quang K và cháu Ngô Anh Tr Rcăm do chị H Ri Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, chị H Ri Đ có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu, đồng thời cháu K và cháu Anh Tr cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên cần tiếp tục giao cháu cả hai cháu cho chị H Ri Đ trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.
[3.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị H Ri Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết.
[3.5] Về án phí: Nguyên đơn chị H Ri Đ Rcăm phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Ri Đ Rcăm.
-
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H Ri Đ Rcăm được ly hôn với anh Ngô Văn T.
-
- Về con chung: Giao cháu Ngô Quang K, sinh ngày 20/6/2008 và cháu Ngô Anh Tr Rcăm, sinh ngày 01/01/2016 cho chị H Ri Đ Rcăm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
-
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
-
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, mà không ai được cản trở.
-
Vì lợi ích của con chưa thành niên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có đương sự yêu cầu.
-
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
-
- Về án phí: Chị H Ri Đ Rcăm phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo số AA/2023/0007519 ngày 15/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M'gar, tỉnh Đăk Lăk.
-
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Y Lợi Niê |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐĂK LĂK về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn vợ chồng không có biện pháp hàn gắn và vợ chồng đã sống ly thân đã lâu nên chị H Ri Đô yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Tuấn.
