|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 39/2024/DS-ST Ngày: 03/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Nguyễn Thế Nam
2. Ông Phạm Quốc Thân
-Thư ký phiên tòa: Bà Dương Bùi Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Yến – Kiểm sát viên
Vào ngày 03/7/2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 391/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-DS ngày 23/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/QĐST-DS ngày 19/6/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A). Địa chỉ: số D đường N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P – Chức vụ Tổng giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Quốc V. Địa chỉ: số B đường H, phường Q, thành phố B, tinh Đ.
2. Bị đơn: Ông Trần Phú B, sinh năm 1967 và bà Lê Thị V1, sinh năm 1969. Địa chỉ: khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Đại diện của nguyên đơn, bà V1 có mặt,
ông B vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2023, các lời khai bổ sung và tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu do ông Nguyễn Quốc Vinh làm đại diện trình bày: Ngày 25/6/2021, Ngân hàng TMCP Á Châu cho ông Trần Phú Bằng và bà Lê Thị Vân ký hợp đồng tín dụng số LOK.CN.45.250621, nội dung ngân hàng cho ông Bằng, bà Vân vay 7.000.000.000 đồng, thời hạn vay 180 tháng, mục đích vay mua đất, lãi suất 10,5%/năm, phạt chậm trả lãi 10%/năm.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất tại thửa 54, 55 tờ 51 phường Suối Tre, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 190699 và Bt 190700 cấp ngày 25/8/2015 cho ông Đinh Xuân Hoàng Sinh, được cập nhận chuyển quyền sử dụng cho ông Trần Phú Bằng và bà Lê Thị Vân ngày 28/6/2021.
Ngoài ra nguyên đơn có phát hành thẻ tín dụng cho bà Vân với hạn mức 50.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, ông Bằng bà Vân đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với nguyên đơn. Tính đến ngày 15/4/2023, bị đơn đã trả được tổng cộng 1.054.561.434 đồng tiền gốc và 465.953.772 đồng tiền lãi, còn thiếu 6.697.557.394 đồng (gồm nợ gốc 6.385.099.916 đồng, lãi trong hạn 301.493.691 đồng, lãi quá hạn 6.462.738 đồng, phạt chậm trả lãi 4.501.049 đồng).
Nay nguyên đơn yêu cầu ông Bằng, bà Vân trả toàn bộ nợ gốc và lãi tính đến ngày 15/4/2023 là 6.697.557.394 đồng, ông Bằng, bà Vân phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 15/4/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa tại thửa 54, 55 tờ 51 phường Suối Tre, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 190699 và Bt 190700 cấp ngày 25/8/2015 cho ông Đinh Xuân Hoàng Sinh, được cập nhận chuyển quyền sử dụng cho ông Trần Phú Bằng và bà Lê Thị Vân ngày 28/6/2021 được dùng để đảm bảo thi hành án.
Chứng cứ: hồ sơ pháp nhân của nguyên đơn, tài liệu hồ sơ vay tín dụng, hồ sơ thủ tục mở thẻ tín dụng; hồ sơ thế chấp quyền sử sụng đất, bảng kê chi tiết gốc và lãi, thủ tục ủy quyền, tự khai, đơn để nghị không lựa chọn hoà giải đối thoại.
- Bị đơn ông Trần Phú Bằng vắng mặt nên không có lời trình bày, tại phiên toà sơ thẩm bà Lê Thị Vân trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc ký hợp đồng tín dụng, phát hành thẻ tín dụng và số tiền gốc, lãi còn thiếu. Quá trình vay tiền bà có liên hệ ngân hàng xin thời gian 03 tháng để trả tiền vay nhưng không được đồng ý, nay bà đồng ý trả tiền gốc và lãi theo yêu cầu của nguyên đơn, đồng ý quyền sử dụng đất tại thửa tại thửa 54, 55 tờ 51 phường Suối Tre, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 190699 và Bt 190700 cấp ngày 25/8/2015 cho ông Đinh Xuân Hoàng Sinh, được cập nhận chuyển quyền sử dụng cho ông Trần Phú Bằng và bà Lê Thị Vân ngày 28/6/2021 được dùng để đảm bảo thi hành án.
Chứng cứ: Không có.
- Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Không có.
- Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
2
+ Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và đương sự trong việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tuy nhiên có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập, thông báo của Toà án, ông B đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ 2 nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt đối với bị đơn ông B.
+ Về nội dung vụ án: căn cứ vào tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, lời khai của bà V1 tại phiên toà đã đủ cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng tín dụng và phát hành thẻ tín dụng, hiện bị đơn còn thiếu tiền gốc, lãi như nguyên đơn trình bày, do đó buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng nợ gốc, lãi tính đến 15/4/2023 là 6.697.557.394 đồng (gồm nợ gốc 6.385.099.916 đồng, lãi trong hạn 301.493.691 đồng, lãi quá hạn 6.462.738 đồng, phạt chậm trả lãi 4.501.049 đồng) và lãi phát sinh tính từ ngày 15/4/2023 cho đến khi trả hết nợ gốc. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa 54, 55 tờ 51 phường S, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 190699 và Bt 190700 cấp ngày 25/8/2015 cho ông Đinh Xuân Hoàng S, được cập nhận chuyển quyền sử dụng cho ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 ngày 28/6/2021 được dùng để đảm bảo thi hành án. Về án phí: đương sự chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á khởi kiện yêu cầu ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng, ông B, bà V1 là cá nhân không đăng ký kinh doanh, khoản tiền vay tín dụng không nhằm mục đích kinh doanh sinh lợi nhuận nên căn cứ khoản 3 Điều 26 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
[2] Tư cách tham gia tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á là nguyên đơn, ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 là bị đơn trong vụ kiện.
[3] Thủ tục tố tụng: Nguyên đơn thực hiện thủ tục uỷ quyền cho ông Nguyễn Quốc V đại diện tham gia tố tụng đúng quy định. Ông B đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ Điều 228 xét xử vắng mặt ông B.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bị đơn ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng cho bị đơn nhưng ông bà không có ý kiến phản hồi. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ của nguyên đơn cung cấp, kết
3
quả xem xét thẩm định tại chỗ và lời khai của bà V1 tại phiên toà hôm nay thì thấy có đủ chứng cứ xác định ông B bà V1 có ký hợp đồng tín dụng số LOK.CN.45.250621 ngày 25/6/2021 vay của nguyên đơn số tiền 7.000.000.000 đồng, đồng thời bị đơn được cấp thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay tín dụng nêu trên là quyền sử dụng đất tại thửa 54, 55 tờ 51 phường S, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 190699 và Bt 190700 cấp ngày 25/8/2015 cho ông Đinh Xuân Hoàng S, được cập nhận chuyển quyền sử dụng cho ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 ngày 28/6/2021.
Hợp đồng tín dụng, phát hành thẻ tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện đúng theo quy định pháp luật nên là cơ sở xem xét giải quyết kho phát sinh tranh chấp.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông B và bà V1 chỉ trả được tổng cộng 1.054.561.434 đồng tiền gốc và 465.953.772 đồng tiền lãi, do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 31/3/2023, ngân hàng TMCP Á đã thông báo thu hồi nợ trước hạn và chấm dứt sử dụng thẻ tín dụng đối với ông B, bà V1.
Tính đến ngày 15/4/2023, ông B bà V1 còn thiếu ngân hàng Á 6.697.557.394 đồng, gồm nợ gốc 6.385.099.916 đồng, lãi trong hạn 301.493.691 đồng, lãi quá hạn 6.462.738 đồng, phạt chậm trả lãi 4.501.049 đồng.
Do đó chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn trả nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 15/4/2023 là 6.697.557.394 đồng, bị đơn phải trả lãi phát sinh theo thoả thuận của hợp đồng tín dụng đã ký tính kể từ ngày 15/4/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa 54, 55 tờ 51 phường S, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 190699 và Bt 190700 cấp ngày 25/8/2015 cho ông Đinh Xuân Hoàng S, được cập nhận chuyển quyền sử dụng cho ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 ngày 28/6/2021 được dùng để đảm bảo thi hành án
[6] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tạm ứng 5.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền trên.
[7] Về án phí: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 114.697.557 đồng.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
4
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
- Buộc ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền 6.697.557.394 (sáu tỷ sáu trăm chín mươi bảy triệu năm trăm năm mươi bảy ngàn ba trăm chín mươi tư) đồng, gồm nợ gốc 6.385.099.916 đồng, lãi trong hạn 301.493.691 đồng, lãi quá hạn 6.462.738 đồng, phạt chậm trả lãi 4.501.049 đồng.
- Ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 phải trả khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/4/2023 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tính trên số dư nợ gốc còn lại đến khi thanh toán hết nợ.
- Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa 54, 55 tờ 51 phường S, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 190699 và Bt 190700 cấp ngày 25/8/2015 cho ông Đinh Xuân Hoàng S, được cập nhận chuyển quyền sử dụng cho ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 ngày 28/6/2021 được dùng để đảm bảo thi hành án
- - Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á 5.000.000 đồng tiền chi phí tố tụng.
- - Về án phí: ông Trần Phú B và bà Lê Thị V1 phải chịu 114.697.557 (Một trăm mười bốn triệu sáu trăm chín mươi bảy ngàn năm trăm năm mươi bảy) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á 57.349.000 đồng tiền tạm ứng phí do nguyên đơn nộp (Nguyễn Quốc V nộp thay) theo biên lai thu số 0004761 ngày 04/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn bà Vân N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án, bị đơn ông B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Mỹ Lệ |
5
6
Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 39/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn