TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 03-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Xuyến;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đức Bình,
Ông Hoàng Văn Đoan.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử thuộc Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Trọng T, sinh ngày 09 tháng 4 năm 1970 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng N và bà Trần Thị R (đều đã chết); có vợ là Lê Thị T1, sinh năm 1973 và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 207/HSST ngày 29/10/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Trọng T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội Mua bán phụ nữ theo quy định tại khoản 2 Điều 115 của Bộ luật Hình sự năm 1985. Trần Trọng T đã chấp hành xong các quyết định của bản án nên đương nhiên được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1963; chết ngày 21/12/2023.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng (là con của bị hại); vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Xuân H, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Trọng T có giấy phép lái xe hợp lệ hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/4/2019, có giá trị đến ngày 10/4/2024. Cuối tháng 10 năm 2023, T lái xe thuê cho anh Trần Xuân H nhưng không có hợp đồng. Sáng ngày 21/12/2023, anh H giao xe ô tô tải (có tải trọng 7.000kg) biển kiểm soát (BKS) 17C-107.87 để Trích một mình điều khiển đi từ tỉnh Thái Bình đến khu vực trung tâm thành phố Hải Phòng đóng hàng. Trích điều khiển xe ô tô được giao di chuyển trên Quốc lộ A đoạn Km43 thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, đi sát dải phân cách cứng. Khi đi đến khu vực các phương tiện được quay đầu, thấy lề đường bên phải theo chiều đi hướng Thái Bình - Hải Phòng có biển báo hiệu hết khu vực đông dân cư và biển báo hiệu khu vực người đi bộ sang ngang nhưng T vẫn nhấn ga tăng tốc xe ô tô lên khoảng 60km/h. Trích phát hiện phía trước cách khoảng 05m có người đàn ông (ông Nguyễn Văn P) đang điều khiển xe đạp chuyển hướng sang đường. Trích đã đạp phanh nhưng do khoảng cách gần, đi với tốc độ cao nên phần cụm đèn chiếu sáng phía trước bên trái xe ô tô do T điều khiển va chạm với xe đạp của ông P làm ông P ngã đập đầu xuống đường; hậu quả ông P tử vong ngay sau khi va chạm. Sau khi gây tai nạn, T giữ nguyên hiện trường, đến Công an xã T, huyện T đầu thú, giao nộp 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Trọng T, 01 giấy đăng ký xe ô tô BKS 17C-107.87, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô 17C-107.87 đều mang tên Trần Xuân H, sinh năm 1987 ở thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy thể hiện, hơi thở Trần Trọng T không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau: Hiện trường xảy ra tai nạn tại vị trí điểm mở Km43, QL10 (làn 1) phía sau vạch kẻ đường dành cho người đi bộ sang đường về phía cầu T (lối sang đường A) và phía trước vạch kẻ đường dành cho người đi bộ về phía cầu Q (lối sang đường B). Tại vị trí cách hiện trường xảy ra tai nạn 66,10m về phía cầu Q, tại lề đường bên phải theo hướng Thái Bình - Hải Phòng có cắm biển báo “Đường người đi bộ sang ngang” (Biển số 423b). Lấy mép đường chuẩn là mép đường bên phải (chiều Thái Bình – Hải Phòng). Xe ô tô BKS 17C-107.87 nằm ở làn A thuộc chiều đường từ Thái Bình - Hải Phòng; đầu xe hướng thành phố Hải Phòng, đuôi xe hướng Thái Bình. T3 bánh trước, bánh sau bên phải cùng cách mép đường chuẩn 6,1m. Xe đạp bị đổ nghiêng bên tay lái phải, nằm sát dải phân cách cứng. Đầu xe hướng Thái Bình, đuôi xe hướng Hải Phòng, tâm bánh trước xe cách mép đường chuẩn là 8,5m, tâm bánh sau vào mép đường chuẩn là 09m, cách đầu bị hại là 8,4m.
Kết quả khám nghiệm tử thi xác định, các dấu vết tổn thương trên cơ thể ông Nguyễn Văn P như sau: Vùng phía trước đầu, mặt xây xước, dập rách da ở nhiều vị trí, kích thước (30 x 30)cm. Biến dạng, vỡ lún bẹp xương hộp sọ. Mu bàn tay phải và các ngón tay phải bầm tím, rách da kích thước (16 x 15)cm. Mu bàn tay và các ngón tay trái bầm tím, xây xước da kích thước (11 x 12)cm.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1120/KL-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não.
Khám xe ô tô BKS 17C-107.87 thấy: Ốp kim loại bảo vệ đầu xe bên trái phía trước bị lõm bẹp, cong vênh kim loại, kích thước (33 x 18)cm. Ốp nhựa bảo vệ phía ngoài cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu bên trái phía trước đầu xe dập vỡ khuyết nhựa theo chiều từ trước về sau, kích thước (38 x 33)cm, tâm vết cao cách đất 90cm. Mặt ngoài cửa xe bên trái có vết trượt xước mất sơn màu xanh theo chiều từ trước về sau, kích thước (8,5 x 01)cm, tâm vết cao cách đất 105,5cm. Khám xe đạp có các dấu vết: Đầu tay lái bên trái trượt xước nhựa bám dính tạp chất màu xanh dạng sơn kích thước (02 x 0,5)cm, tâm vết cao cách đất 105,5cm chiều hướng từ trước về sau...Bàn đạp bên phải bị bung bật, rơi rụng.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an huyện T thể hiện, xe ô tô BKS 17C-107.87 (có tải trọng 7.000kg) là xe ô tô tải mang tên anh Trần Xuân H ở thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Kết luận giám định số 1432/KL-KTHS(SKM) ngày 28/12/2023 của Phòng K, kết luận: Xe ô tô tải, BKS 17C-107.87 có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hay sửa chữa các ký tự.
Kết luận giám định số 211/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Dấu vết trượt xước sơn mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu xám (dạng mạt nhựa) theo chiều từ trước về sau tại cạnh trước phía dưới khung kim loại bảo vệ gầm xe bên trái trên xe ô tô tải mang BKS 17C-107.87 (ảnh 5,6,7: Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết cong gập kim loại, dập vỡ khuyết nhựa, bề mặt trượt xước mất nhựa màu xám, bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ ngoài vào tâm trục tại bàn đạp bên trái xe đạp (ảnh 12,13,14: Bản ảnh giám định). Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động ngược chiều va chạm với nhau. Không đủ căn cứ xác định tốc độ của xe ô tô mang BKS 17C - 107.87 tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm.
Kết luận định giá tài sản số 10/KL-ĐG ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Xe ô tô BKS 17C - 107.87 bị thiệt hại 1.140.000 đồng. Xe đạp mini màu trắng bạc đã qua sử dụng, hư hỏng bàn đạp bên trái, bị thiệt hại là 50.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận, nguyên nhân xảy ra tai nạn do lỗi của bị cáo và một phần lỗi của bị hại. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại (anh Nguyễn Văn T2) xác nhận đã nhận đủ 200.000.000 đồng do bị cáo bồi thường; đã nhận lại xe đạp và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Trần Xuân H khai: Xe ô tô BKS 17C-107.87 là tài sản của ông H, ông thuê T lái xe chở hàng. Sáng ngày 21/12/2023, ông H giao xe để T điều khiển đến thành phố Hải Phòng mua hàng. Đến 06 giờ cùng ngày, ông H được T thông báo xe ô tô do T điều khiển đã gây tai nạn tại Quốc lộ A đoạn đi qua địa phận thôn Đ, xã T, huyện T làm ông P tử vong. Do tai nạn, xe ô tô BKS 17C-107.87 bị thiệt hại 1.140.000 đồng nhưng ông H không yêu cầu T phải bồi thường.
Cáo trạng số 44/CT-VKSTL ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố Trần Trọng T về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đề nghị được trả lại giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Trọng T. Người đại diện hợp pháp của bị hại (anh Nguyễn Văn T2); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Trần Xuân H) vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có văn bản thay đổi lời khai.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, lập luận, giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, kiểm sát viên đề nghị xử phạt Trần Trọng T từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo. Về bồi thường dân sự: Do bị cáo và gia đình bị hại đã giải quyết xong, người đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không phải giải quyết. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Trọng T. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Chứng cứ, tài liệu do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp có trong hồ sơ vụ án đều đảm bảo hợp pháp; được thu thập, cung cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện; phù hợp với các kết luận giám định pháp y, giám định kỹ thuật hình sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sự phù hợp đó chứng minh sự thật khách quan xảy ra ngày 21/12/2023 trên Quốc lộ A đoạn đi qua địa phận thôn Đ, xã T, huyện T, Trần Trọng T có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô tải BKS 17C-107.87 tham gia giao thông, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua khu vực có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm ( biển báo hiệu “Đường người đi bộ sang ngang”) là vi phạm Điều 11, 12 Luật Giao thông đường bộ, đã được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn của xe cơ giới khi tham gia giao thông đường bộ nên đã đâm va vào ông Nguyễn Văn P đang đi xe đạp gây hậu quả làm ông P tử vong. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, hậu quả làm chết người nên bị cáo đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến an toàn công cộng, trật tự công cộng; xâm hại đến tính mạng của người khác.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú; bị hại có một phần lỗi tham gia giao thông điều khiển xe đạp đi vào phần đường dành cho xe cơ giới là vi phạm khoản 1 Điều 31 Luật giao thông đường bộ; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù tiền án (năm 1998) về tội Mua bán phụ nữ đã được đương nhiên xóa án tích, song bị cáo phải bị coi là người phạm tội có nhân thân xấu.
Xét thấy: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị hại có một phần lỗi; bị cáo có khả năng tự cải tạo; việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục, đồng thời buộc bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng bảo đảm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
Về bồi thường dân sự: Xét thấy trong giai đoạn điều tra, bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong vấn đề bồi thường dân sự (bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 200.000.000 đồng); người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không phải giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả xe ô tô BKS 17C-107.87, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô 17C-107.87 cho ông Trần Xuân H; trả lại xe đạp mini cho đại diện gia đình ông Nguyễn Văn P. Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Trọng T, Cơ quan điều tra đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng quản lý. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị được trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên bị cáo nên cần trả lại bị cáo vật chứng này.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, phạt: T (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Trần Trọng T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Trọng T.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Trần Trọng T.
Về bồi thường dân sự:
Không xem xét giải quyết, do các đương sự đã thỏa thuận, giải quyết xong.Về vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại Trần Trọng T 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Trọng T, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Trần Trọng T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Xuyến |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trọng T vi phạm quy định về tham gia GTĐB
