|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 39/2024/DS-ST Ngày 03/5/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Ngọc Nam;
2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 203/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty T3 JACCS (JIVF)
Địa chỉ: Lầu A Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ CHí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông T4 – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị H - Chức vụ: Trưởng bộ phận cấp cao Bộ phận Quản lý công nợ (Theo Giấy uỷ quyền số 13/2023/UQ-JIVF ngày 29/5/2023).
Người được uỷ quyền lại: Ông Trương Quốc B, sinh năm 1984 – Chức vụ: Nhân viên JIVF; Địa chỉ liên lạc: Lầu A Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy uỷ quyền số 422/2023/Q-LM-JIVF ngày 02/10/2023). (Có mặt).
* Bị đơn: Bà Tăng Diệp Thị T, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Tổ G, khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trương Quốc B là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T3 (JIVF) trình bày như sau:
Vào ngày 20/6/2022, bà T có ký hợp đồng số 930270002925224000 với Công ty T3 (JIVF) (viết tắt là Công ty T3) để vay số tiền 40.000.000đồng. Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng thời hạn vay là 24 tháng, số tiền thanh toán mỗi tháng là 2.600.671đồng, lãi suất 3,87%/ tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phí hàng tháng là 12.000đồng/ tháng.
Sau khi vay tiền, bà T đã trả cho Công ty T3 được số tiền 26.046.631đồng, thời gian từ ngày 20/7/2020 đến ngày 21/5/2023. Sau ngày 21/5/2023 đến nay, bà T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán như hợp đồng. Tính đến ngày 07/12/2023 bà T còn nợ Công ty số tiền tổng cộng là 36.602.337đồng, trong đó gồm: số tiền nợ gốc là 27.732.527đồng, lãi trong hạn là 8.054.590đồng, lãi quá hạn là 719.220đồng, phí quản lý khoản vay là 96.000đồng.
Nay Công ty T3 yêu cầu bà T1 Diệp Thị T phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ, số tiền tạm tính đến hết ngày 07/12/2023 là 36.602.337đồng và yêu cầu bà T tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí từ ngày 07/12/2023 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930270002925224000 ký ngày 20/6/2022.
* Bị đơn bà Tăng Diệp Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc cũng như không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà T trả số tiền tạm tính đến ngày 03/5/2024 là 44.429.117đồng.
- Bị đơn bà T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu:
Trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật theo Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật Dân năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các chức tín dụng tuyên: Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 44.429.117 đồng tạm tính đến ngày 03/5/2024. Tiếp tục tính lãi và các loại phí theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ. Bị đơn nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà T1 Diệp Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ G, khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Tăng Diệp Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Vào ngày 20/6/2022, bà Tăng Diệp Thị T có ký hợp đồng tín dụng số 930270002925224000 với Công ty T3 để vay số tiền 40.000.000đồng. Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng thời hạn vay là 24 tháng, số tiền thanh toán mỗi tháng là 2.600.671đồng, lãi suất 3,87%/ tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phí hàng tháng là 12.000đồng/ tháng. Sau khi vay tiền, bà T đã trả cho Công ty T3 được số tiền 26.046.631đồng, thời gian từ ngày 20/7/2022 đến ngày 21/5/2023. Sau ngày 21/5/2023 đến nay, bà T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán như thỏa thuận trong hợp đồng đã ký.
Việc giao kết hợp đồng tín dụng này do các bên tự nguyện xuất phát từ nhu cầu vay vốn của bà T và nhu cầu cấp tín dụng của Công ty T3, hợp đồng được lập thành văn bản, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực, vì vậy các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã không thanh toán là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, vi phạm thỏa thuận thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã giao kết. Do bà T vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty T3 yêu cầu bà T trả số tiền còn nợ.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ khoản nợ nêu trên, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà T đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, đồng thời để đối chiếu nợ nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do xem như đã từ bỏ quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình.
Do đó, theo yêu cầu thanh toán nợ của Công ty T3 là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận và buộc bà T có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc cho Công ty T3.
[3.2] Ngoài ra, do bà T chậm thanh toán nên đã vi phạm nghĩa vụ theo cam kết, do đó phía nguyên đơn yêu cầu thanh toán lãi chậm thanh toán theo bảng kê tiền lãi chi tiết đến ngày 03/5/2024 với số tiền tổng cộng là 44.429.117đồng, đồng thời yêu cầu tính lãi phát sinh đến khi thanh toán xong số nợ. Xét thấy, việc thỏa thuận lãi suất theo hợp đồng tín dụng nêu trên là tự nguyện, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, cụ thể giữa tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất với nhau và khi cho vay Công ty T3 cũng đã niêm yết công khai lãi suất áp dụng tại thời điểm vay, được bà T đồng ý nên có căn cứ chấp nhận với lãi suất vay mà bên Công ty T3 yêu cầu.
Tạm tính đến ngày 03/5/2024, bà T còn nợ số tiền tổng cộng là 44.429.117đồng, trong đó: Số tiền vốn 27.732.527đồng, lãi trong hạn 13.276.756đồng, lãi quá hạn 3.263.834đồng và phí quản lý khoản vay 156.000đồng.
Từ những phân tích trên, HĐXX căn cứ hợp đồng tín dụng số 930270002925224000 ngày 20/6/2022 được ký kết giữa bên cho vay Công ty T3 với bên vay bà T1 Diệp Thị T và Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn của bà T để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T3.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 147, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91 Luật Các chức tín dụng năm 2010;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T2.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T3 JACCS (JIVF) đối với bà Tăng Diệp Thị T.
Buộc bà T1 Diệp Thị T có trách nhiệm trả cho Công ty T3 (JIVF) tổng số tiền tạm tính đến ngày 03/5/2024 là 44.429.117đồng (bốn mươi bốn triệu, bốn trăm hai mươi chín nghìn, một trăm mười bảy đồng).
Trong đó: Số tiền vốn 27.732.527đồng, lãi trong hạn 13.276.756đồng, lãi quá hạn 3.263.834đồng và phí quản lý khoản vay 156.000đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 04/5/2024), bà T1 Diệp Thị T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 930270002925224000 ngày 20/6/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Tăng Diệp Thị T phải nộp 2.221.000đồng (hai triệu, hai trăm hai mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Công ty T3 JACCS (JIVF) số tiền 798.000đồng (bảy trăm chín mươi tám nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012065 ngày 04/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Công ty T3 JACCS (JIVF) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T1 Diệp Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Vân |
Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 39/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
