|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-PT.
Ngày 02/12/2024.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông
Ông Nguyễn Gia Lương
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 02/12/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 35/2024/TLPT- HNGĐ ngày 08/10/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 45/2024/QĐ-PT ngày 19/11/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Trần Thị S, sinh năm 1986 (Có mặt)
- * Bị đơn: Anh Lầy Gĩ T, sinh năm 1986 (Có mặt).
- Cùng trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lầy Sùi N, sinh năm 1947 (Vắng mặt)
- Bà Đinh Thị L, sinh năm 1954 (Vắng mặt)
- Cùng trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N: Bà Giáp Thị H -Trợ giúp viên pháp, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B (xin vắng mặt).
- * Người kháng cáo: Bị đơn anh L1 Gĩ Toàn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các tài liệu trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị S trình bày:
Chị S và anh L1 Gĩ Toàn trước khi cưới có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L năm 2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8 năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp, anh T hay đánh con chung, đuổi chị và 02 con chung ra khỏi nhà không cho chị S làm ăn nuôi con. Vợ chồng đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lầy Kiến Â, sinh ngày 25/01/2011 và cháu Lầy Tuấn K, sinh ngày 15/01/2015. Chị đề nghị được nuôi cả 02 con chung. Yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/ 01 con/ tháng.
Hiện nay chị đang làm nghề cắt tóc tại nhà ở thôn D, xã Đ, huyện L, thu nhập hàng tháng khoảng 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/ tháng.
Về tài sản chung: Anh chị có quyền sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138, diện tích 109,3m2, địa chỉ tại thôn D, xã Đ. Nguồn gốc thửa đất trên do bố mẹ anh T là ông Lầy Sùi N, bà Đinh Thị L tặng cho năm 2009 và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2010 mang tên anh T, chị S. Năm 2014 anh chị xây dựng nhà 02 tầng gắn liền đất và vợ chồng sinh sống đến nay. Nay chị đề nghị chia quyền sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138, diện tích 109,3m2 và tài sản gắn liền là nhà 02 tầng và quán cắt tóc và tài sản vật dụng sinh hoạt trong nhà.
Chị xác định vợ chồng có công sức đóng góp tài sản chung như nhau, chị đề nghị được quyền sử dụng diện tích đất có quán cắt tóc gắn liền, diện tích theo sơ đồ đo đạc khi thẩm định là 50,3m2; giao anh T diện tích còn lại và tài sản gắn liền là nhà 02 tầng nhưng phải trích chia bằng tiền 1/2 giá trị tài sản chung vợ chồng còn lại là nhà gắn liền đất và bộ bàn ghế gõ hương, 01 tivi, 01 lọc nước, 01 điều hòa Daikin.
Nay ông N, bà L đòi lại quyền sử dụng đất đã cho vợ chồng chị thì chị không đồng ý vì đất ông N, bà L đã cho anh chị.
* Bị đơn là anh Lầy Gĩ T trình bày: Anh và chị S đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L năm 2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8 năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống tình cảm. Vợ chồng đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị S yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lầy Kiến Â, sinh ngày 25/01/2011 và Lầy Tuấn K, sinh ngày 15/01/2015. Anh đề nghị được trực tiếp
nuôi con chung Lầy Tuấn K. Đồng ý giao cháu Lầy Liến Âl cho chị nuôi dưỡng. Không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay anh đang làm công nhân Công ty É, địa chỉ ở P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, thu nhập hàng tháng khoảng 18.000.000 đồng / tháng.
Về tài sản chung: Về nguồn gốc thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138, diện tích 109,3m2 tại thôn D, xã Đ do bố mẹ anh là ông Lầy Sùi N, bà Đinh Thị L tặng cho năm 2009 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2010 mang tên anh chị. Năm 2014 anh chị xây dựng nhà 02 tầng gắn liền đất và vợ chồng sinh sống đến nay. Nay anh T xác định quyền sử dụng đất trên là của ông N, bà L. Tài sản chung của anh chị chỉ gồm nhà 02 tầng gắn liền đất trên và tài sản vật dụng sinh hoạt trong nhà, trong đó công sức đóng góp của anh chị như nhau.
Về quyền sử dụng đất nay ông N, bà L đòi lại thì anh đồng ý trả lại quyền sử dụng đất cho ông N, bà L.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lầy Sùi N, bà Đinh Thị L thống nhất trình bày:
Về quyền sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138, diện tích 109,3m2 tại thôn D, xã Đ có nguồn gốc do ông Lầy Sùi N, bà Đinh Thị L mua khoảng năm 1992. Đến năm 2009 thì ông N, bà L tặng cho anh T, chị S. Từ thời điểm đó ông N, bà L sinh sống riêng biệt ở thửa đất của con trai út.Việc làm thủ tục tặng cho trên do bà L, ông N tự làm nên đã được thay đổi nội dung pháp lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2010 mang tên anh T, chị S. Năm 2014 anh T, chị S xây dựng nhà 02 tầng gắn liền đất và vợ chồng anh T chị S sinh sống đến nay, tuy nhiên một phần nhà xây lấn vào đất vườn của ông N1, bà L nhưng ông N, bà L không yêu cầu giải quyết diện tích đất vườn, ông N bà L đồng ý tặng cho anh T, chị S và việc tặng cho trên của bà L, ông N là tự nguyện thực hiện với mong muốn để sau này nương tựa tuổi già vào vợ chồng anh T, chị S. Tuy nhiên nay anh T, chị S ly hôn thì bà L, ông N yêu cầu trả lại toàn bộ diện tích quyền sử dụng thửa đất số 84 tại thôn D, xã Đ để sinh sống.
Ngoài ra ông bà còn đề nghị anh T chị S phải trả ông bà tiền làm nhà cấp 4 ông N, bà L xây thuộc thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138 diện tích 109,3m2 anh T, chị Sáu P để xây nhà 02 tầng trên đất trước đó trị giá 150.000.000 đồng và 15.000.000 đồng bà L cho anh T, chị S xây cầu thang nhà và 65.000.000 đồng cho chị S để sau này nương tựa tuổi già. Khi anh T, chị S phá nhà cấp 4 để xây nhà mới thì ông N, bà L lúc đó đồng ý vì đã tặng cho anh T, chị S quyền sử dụng đất. Tuy nhiên nay anh T, chị S ly hôn thì ông N, bà L yêu cầu trả lại tiền làm nhà cấp 4 trị giá 150.000.000 đồng.
Cháu Lầy Kiến  và Lầy Tuấn K đều thống nhất trình bày: Cháu K và cháu  hiện đang sinh sống ở thôn D, xã Đ, huyện L; đang học tập tốt tại địa phương. Từ trước đến nay cháu K và cháu  chỉ sinh sống với mẹ là Trần Thị S, được mẹ quan tâm chăm sóc chu đáo, được học tập tốt. Trường hợp bố mẹ các cháu ly hôn thì cháu K và cháu  đều có nguyện vọng được tiếp tục sinh sống với mẹ là Trần Thị S. Trường hợp bố cháu K và cháu  có nguyện vọng trực tiếp nuôi
dưỡng cháu K thì cháu K và cháu  không đồng ý vì bố cháu  có thời gian hay đánh các cháu và hay mắng chửi các cháu. Ngoài ra tối 30 Tết năm 2024 còn vứt quần áo và đuổi 3 mẹ con ra khỏi nhà, từ đó đến nay 3 mẹ con phải sinh sống nhờ nhà bà ngoại. Hiện tại cháu K và cháu  đang sinh sống cùng mẹ ,được mẹ thương yêu và được học tập đầy đủ. Cháu K và cháu  chỉ có nguyện vọng được tiếp tục sinh sống với mẹ là Trần Thị S.
Kết quả định giá: Diện tích 106,8m2 đất ở, trong đó diện tích 50,3m2 trị giá 106.800.000đồng, tài sản gắn liền là nhà 02 tầng cấp 3 loại 2 diện tích 144m2, trị giá 444.960.000 đồng; 01 nhà cấp 4 loại 2 trị giá 60.637.200 đồng; 01 nhà bán mái trị giá 11. 414.250 đồng; 01 nhà bếp trị giá 12.288.400 đồng; 01 nhà vệ sinh trị giá 8.424.000 đồng.
Các tài sản là động sản: 1 bộ bàn ghế gỗ hương trị giá 20.000.000 đồng, 01 TV Samsung trị giá 5.400.000 đồng, 01 lọc nước Aqua trị giá 1.000.000 đồng, 01 điều hòa Daikin trị giá 4.000.000 đồng.
* Với nội dung nêu trên, tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã quyết định: Xử:
Căn cứ các Điều 33, 51, 56, 59, 62,58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều khoản 7 Điều 95, khoản 3 Điều 188, Điều 203 Luật đất đai 2013; các Điều 503 Bộ luật dân sự, các Điều 147, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; xử :
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị S và anh L1 Gĩ Toàn được ly hôn.
Về con chung: Giao chị S trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Lầy Kiến Â, sinh ngày 25/01/2011 và Lầy Tuấn K, sinh ngày 15/01/2015. Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung Lầy Kiến A và Lầy Tuấn K theo mức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng là 1.000.000 đồng/ con/ tháng. Thời gian cấp dưỡng 02 con chung tính từ tháng 9/2024 đến khi các con chung 18 tuổi.
Về tài sản chung: Giao chị S được quyền sử dụng diện tích 50,3m2 trị giá 503.000.000 đồng và tài sản gắn liền là 1 nhà cấp 4 loại 2 diện tích 33,8m2 trị giá 60.637.200 đồng, thuộc thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138, địa chỉ tại thôn D, xã Đ huyện L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2010 mang tên anh T, chị S.
Giao anh Toàn Q sử dụng diện tích 56,5m2 đất thuộc thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138, địa chỉ tại thôn D, xã Đ, huyện L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2010 mang tên anh T, chị S. và tài sản gắn liền gồm 1 nhà 02 tầng cấp 3 loại 2 diện tích 144m2, 01 nhà bán mái, 01 nhà bếp ,01 nhà vệ sinh, 1 bộ bàn ghế gỗ hương,01 TV Samsung, 01 lọc nước Aqua, 01 điều hòa
Daikin nhưng phải trả tiền trích chia tài sản chung cho chị S là 223.424.725 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông N, bà L đòi lại quyền sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138 tại thôn D, xã Đ,huyện L và tiền làm nhà cấp 4 cũ trị giá 150.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
* Ngày 24/8/2024 bị đơn là anh Lầy Gĩ T có đơn kháng cáo phần nuôi con chung và chia tài sản của bản án sơ thẩm, đề nghị giao con chung là Lầy Tuấn K cho anh nuôi dưỡng và không đồng ý chia đất 50,3m2 cho chị S. Đồng ý trả chị bằng tiền.
* Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn anh T không rút đơn kháng cáo. Nguyên đơn chị S không rút yêu cầu khởi kiện.
Anh T trình bày: Về nguồn gốc thửa đất là do bố mẹ anh cho anh đồng ý chia cho chị S ½ giá trị tài sản tuy nhiên đề nghị chị giao nhà đất cho anh, anh sẽ trả chị bằng tiền để chị tạo lập chỗ ở mới số tiền theo bản án sơ thẩm đã quyết định là 787.601.925đồng. Về con chung anh đồng ý để chị chăm sóc 02 con chung nhưng đề nghị chị phải cho anh được thăm mon, chăm sóc hai cháu mà không được ngăn cản anh.
Chị S trình bầy: Chị đồng ý việc anh trả chị bằng tiền giá trị nhà đất như bản án sơ thẩm đã định giá. Về con chung chị luôn tại điều kiện để anh thăm mon cùng chăm sóc cháu và không yêu cầu anh T phí cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị nữa.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự xử:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T. Sửa bản án sơ thẩm số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Giao con chung cháu Lầy Kiến Â, sinh ngày 25/01/2011 và Lầy Tuấn K, sinh ngày 15/01/2015 cho chị Trần Thị S được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng không xem xét do chị S không yêu cầu.
Về tài sản: Giao cho anh L1 Gĩ Toàn được quyền quản lý, sử dụng thuộc đất thửa số 84, tờ bản đồ số 138, diện tích 109m2 địa chỉ tại thôn D, xã Đ huyện L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/6/2010 mang tên anh Lầy Gĩ T, chị Trần Thị S và toàn bộ tài sản gắn liền là 01 nhà cấp 4 loại 2 diện tích 33,8m2; 01 nhà 02 tầng cấp 3 loại 2 diện tích 144m2; 01 nhà bán mái;
02 nhà bếp; 02 nhà vệ sinh. 01 nhà 02 tầng cấp 3 loại 2 diện tích 144m2, 01 nhà bán mái và một số tài sản khác là động sản gồm: 1 bộ bàn ghế gỗ hương, 01 TV Samsung, 01 lọc nước Aqua, 01 điều hòa Daikin.
Buộc anh Lầy Gĩ T phải tiền trích chia tài sản cho chị S 787.061.925đồng, thời hạn thanh toán 03 tháng và trả trước ngày 02/03/2025.
Về án phí phúc thẩm: anh T không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 66/2024/HNGĐ-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã giải quyết về quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị S. Nội dung này các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của anh L1 Gĩ Toàn về việc nuôi con chung, HĐXX thấy: Anh T đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét cho anh được nuôi 01 con chung là cháu Lầy Tuấn K.
Vợ chồng anh T, chị S có hai con chung là: Lầy Kiến Â, sinh ngày 25/01/2011 và Lầy Tuấn K, sinh ngày 15/01/2015. Các cháu hiện nay đang ở cùng chị S. Bản án sơ thẩm đã giao cho chị S được quyền nuôi dưỡng cả hai cháu. Sau khi xét xử sơ thẩm anh T kháng cáo đề nghị được nuôi dưỡng cháu K. HĐXX xét thấy: Nguyện vọng được nuôi con chung của chị S và anh T là chính đáng, thể hiện trách nhiệm của người làm cha, làm mẹ đối với con cái. Chị S và anh T đều có công việc, thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Tại phiên tòa chị S đề nghị anh giao cả hai con chung cho chị nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung nữa, chị sẽ tạo mọi điều kiện để anh T được thăm nom và chăm sóc các cháu. Anh T đồng ý với ý kiến chị S, đồng ý giao hai con cho chị S nuôi dưỡng và không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Do vậy Hội đồng xét xử cần giao cả hai con chung cho chị S nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tại phiên tòa phúc thẩm chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử cần sửa án sơ thẩm về việc cấp dưỡng không buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị S.
[3]. Xét nội dung kháng cáo của anh L1 Gĩ Toàn về việc chia tài sản chung là đất và tài sản gắn liền trên đất, HĐXX thấy:
Anh T và chị S được ông Lầy Sùi N, bà Đinh Thị L cho thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138 diện tích 109,3m2 tại địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/6/2010 mang tên anh T chị S, anh chị đã làm nhà trên đất từ năm 2014. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất ông bà đã cho anh chị là có căn cứ. Nay anh T đề nghị xem xét giao toàn bộ thửa đất cho anh và anh đồng ý trả chị S
787.601.000đồng trong thời gian 3 tháng kể từ ngày 02/12/2024 đến hết ngày 02/3/2025. Tại phiên tòa chị S đồng ý nhận trích chia bằng tiền là 787.601.000đồng và đồng ý cho anh T trong thời gian 3 tháng phải trả đủ số tiền trên cho chị.
Hội đồng xét xử thấy việc thỏa thuận của anh chị là tự nguyện, Hội đồng xét xử cần giao cho anh T được toàn quyền sở hữu: thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138, diện tích 109m2 và tài sản gắn liền là 01 nhà cấp 4 loại 2 diện tích 33,8m2, 01 nhà 02 tầng cấp 3 loại 2 diện tích 144m2; 01 nhà bán mái; 01 nhà bếp; 01 nhà vệ sinh, 1 bộ bàn ghế gỗ hương, 01 TV Samsung, 01 lọc nước Aqua, 01 điều hòa Daikin. Tổng trị giá đất và tài sản giao cho anh T trị giá: 1.661.123.580đồng. Buộc anh Lầy Gĩ T phải trích chia trả cho chị Trần Thị S 787.601.925đồng trong thời gian 03 tháng và trả trước ngày 02/03/2025.
[4]. Từ những nội dung trên, HĐXX Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 BLTTDS, sửa Bản án sơ thẩm 66/2024/HNGĐ-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về việc nuôi con chung, chia tài sản chung vợ chồng.
[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, kháng cáo của anh T được chấp nhận nên anh T không phải chịu án phí phúc thẩm.
[6]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; khoản 2 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận kháng cáo của anh Lầy Gĩ T. Sửa bản án sơ thẩm 66/2024/HNGĐ-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về việc nuôi con chung, chia tài sản chung vợ chồng.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị S trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Lầy Kiến Â, sinh ngày 25/01/2011 và Lầy Tuấn K, sinh ngày 15/01/2015. Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị S.
- Về tài sản chung:
Giao cho anh L1 Gĩ Toàn quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 138, diện tích 109m2 địa chỉ tại thôn D, xã Đ huyện L, tỉnh Bắc Giang được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/6/2010 mang tên anh Lầy Gĩ
T, chị Trần Thị S và toàn bộ tài sản gắn liền là 01 nhà cấp 4 loại 2 diện tích 33,8m2; 01 nhà 02 tầng cấp 3 loại 2 diện tích 144m2; 01 nhà bán mái; 02 nhà bếp; 02 nhà vệ sinh. 01 nhà 02 tầng cấp 3 loại 2 diện tích 144m2, 01 nhà bán mái và một số tài sản khác là động sản gồm: 1 bộ bàn ghế gỗ hương, 01 TV Samsung, 01 lọc nước Aqua, 01 điều hòa Daikin. Tổng trị giá đất và tài sản trị giá: 1.661.123.580đồng.
Buộc anh Lầy Gĩ T phải trích trả tiền chênh lệch tài sản chung cho chị S là 787.601.925đồng, thời hạn trả tiền trước ngày 02/3/2025.
Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải trả cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Án phí phúc thẩm: Anh Lầy Gĩ T không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại anh T số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0008378 ngày 26/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
8
Bản án số 39/2024/HNGĐ-PT ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sáu chia tài sản Toàn
