|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 02 – 7 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Thương.
Ông Phạm Xuân Trường.
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Cao Đức H, sinh năm 1990 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT: Khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Thợ chụp hình; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Ỷ, sinh năm 1935 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1936; Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; chưa có vợ, con.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Lưu Thị L, sinh năm 1967 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A, đường H, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 13/01/2024, Cao Đức H đến nhà ông Nguyễn M ở khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ để chụp hình đám cưới. Khoảng 12 giờ sau khi chụp hình lễ xong, Cao Đức H ra trước nhà ông Lê Quang T (gần nhà Nguyễn M) nghỉ đợi để sau đó vào chụp hình bàn tiệc. Cao Đức H đi lại ngồi trên xe mô tô hiệu SH Mode biển số 86B8 – 556.56 của bà Lưu Thị L dựng trước sân nhà ông Lê Quang T, thấy xe mô tô biển số 86B8 – 55656 không khóa cốp, Cao Đức H mở cốp xe mục đích kiếm tài sản để trộm cắp. Cao Đức H thấy trong cốp xe có 02 bóp da một bóp lớn, 01 bóp nhỏ. Cao Đức H lấy cái bóp lớn mở kéo ra thấy có tiền, H lấy hết số tiền trong bóp bỏ vào túi quần, sau đó bỏ bóp và các vật dụng khác vào cốp xe đóng cốp xe lại như ban đầu. Sau khi lấy tiền, Cao Đức H đi vào đám cưới tiếp tục chụp hình. Khoảng 13 giờ cùng ngày, sau khi chụp hình đám cưới xong Cao Đức H đi về nhà lấy tiền trộm cắp ra đếm được 31.050.000 đồng Cao Đức H rồi bỏ số tiền vào cốp xe 86B8 – 749.98 của mình để tại nhà của H.
Sau khi phát hiện bị mất tiền trong cốp xe, bà Lưu Thị Loan b Công an thị trấn Đ, huyện Đ. Qua trích xuất camera, Công an thị trấn Đ mời Cao Đức H làm việc H khai nhận hành vi như trên. Thu giữ trong cốp xe 86B8 – 74998 số tiền 31.050.000 đồng.
Bị hại Lưu Thị L đã nhận lại số tiền 31.050.000 đồng, được bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 34/CT-VKSÐL-HS ngày 23/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Cao Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Cao Đức H thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Cao Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Cao Đức H mức án từ 9 tháng đến 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm.
- - Về dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền 31.050.000 đồng và 2.000.000 đồng tiền bồi thường nên không buộc bị cáo phải bồi thường thêm.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
2
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị hại Lưu Thị L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không yêu cầu bồi thường về dân sự, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với đơn trình báo; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản vụ việc; biên bản trích xuất video trong camera; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; biên bản xác định hiện trường; biên bản truy thu tang vật; lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
[2.1] Về hành vi phạm tội:
Khoảng 12 giờ ngày 13/01/2024, tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, Cao Đức H đã lén lút mở cốp xe mô tô biển kiểm soát 86B8 – 556.56 của bà Lưu Thị L trộm cắp 31.050.000 đồng tiền ngân hàng N.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, biết được việc trộm cắp tài sản là trái pháp luật, sẽ bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng: Không.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt; tham gia các hoạt động từ thiện có xác nhận của địa phương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
3
[2.4] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương để giám sát, giáo dục bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhằm thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật.
[2.5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.
[3] Về xử lý vật chứng:
- - Số tiền 31.050.000 đồng là tài sản của bị hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho bị hại là phù hợp.
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát 86B8 – 749.98 của bị cáo, 01 bóp da màu đen – trắng của bà Lưu Thị L, không liên quan đến tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đã được bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét buộc bị cáo phải bồi thường về dân sự.
[5] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Cao Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Cao Đức H 1 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 2 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án 02/7/2024.
4
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân thị trấn Đ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Cao Đức H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 02/7/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
5
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Đức H "Trộm cắp tài sản"
