|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI Bản án số: 39/2025/HSST Ngày 30-10-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NΑΙ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải; ông Nguyễn Sỹ Luận
Thư ký phiên tòa: Ông Chu Ngọc Phú – Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐ-XX ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
1. Họ và tên: Lê Thị L (tên gọi khác: T, G), sinh năm: 1966; tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn C, xã P, tỉnh Đồng Nai; tạm trú và chổ ở: Khu phố G, phường P, tỉnh Đồng Nai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Lê Đức L1, sinh năm 1936 và bà Lê Thị S, sinh năm 1936 (đã chết); bị cáo có chồng là ông Trần Đình T1 (tên gọi khác là Trần Hữu P), sinh năm 1970 và 08 con chung, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 12 tháng 3 năm 2014 phạm tội “đánh bạc”, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13) xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ (Bản án số 24/2014/HSST) đã chấp hành xong Bản án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2025 đến ngày 29 tháng 9 năm 2025 được áp dụng bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
-
2. Họ và tên: Phạm Khắc Đ, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Tổ E, ấp P, xã H, tỉnh Đồng Tháp; chổ ở: Khu phố S, phường P, tỉnh Đồng Nai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Phạm Tấn T2, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1969; bị cáo không có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2025 đến ngày 29 tháng 9 năm 2025 được áp dụng bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
-
3. Họ và tên: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1983 tại thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Thôn C, xã P, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Khu phố B, phường P, tỉnh Đồng Nai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 0/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông (không rõ và đã chết) và bà Trần Thị T4, sinh năm (không rõ); bị cáo có vợ là bà Vũ Thị H, sinh năm 1985 và 02 con chung, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2025 đến ngày 29 tháng 9 năm 2025 được áp dụng bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
-
4. Họ và tên: Đào Ngọc G1 (tên gọi khác: N), sinh năm 1988 tại: tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp A, xã B, tỉnh An Giang; chỗ ở: Khu phố G, phường P, tỉnh Đồng Nai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 1/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Đào N1, sinh năm 1948 và bà Trần Thị N2, sinh năm 1956; bị cáo có chồng là ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1976 và 02 con chung, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2025 đến ngày 29 tháng 9 năm 2025 được áp dụng bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
-
5. Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng L3 (tên gọi khác: Bé B), sinh năm 1986 tại: tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Ấp H, xã M, tình V; chỗ ở: Khu phố G, phường P, tỉnh Đồng Nai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1951 và bà Lê Thị N3, sinh năm 1954; bị cáo có chồng là ông Cao Phước H2, sinh năm 1988 và 02 con chung, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2025 đến ngày 29 tháng 9 năm 2025 được áp dụng bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
-
6. Họ và tên: Võ Hoàng M, sinh năm: 1975; tại: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Khu phố G, phường P, tỉnh Đồng Nai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Võ Quang H3, sinh năm (không rõ và đã chết) và bà Huỳnh Thị T6, sinh năm (không rõ và đã chết); bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị É, sinh năm 1975 và 02 con chung, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2025 đến ngày 29 tháng 9 năm 2025 được áp dụng bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
-
7. Họ và tên: Lý Văn V, sinh năm: 1963; tại: tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm F, phường H, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Không ổn định; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 0/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Lý Văn N4, sinh năm (không rõ và đã chết) và bà Lê Thị T7, sinh năm (không rõ và đã chết); bị cáo có vợ là bà Trịnh Thị N5, sinh năm (không rõ và đã chết) và 02 con chung, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2007; tiền án 01: Ngày 14 tháng 4 năm 2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội “đánh bạc” (Bản án số 16/2023/HS-ST), bị cáo chưa thi hành Bản án này, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 09 tháng 12 năm 2022 phạm tội “đánh bạc”, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo (Bản án số 29/2022/HS-ST) đã chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2025 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 31 tháng 7 năm 2025, Lý Văn V đến phòng trọ của Lê Thị L thuê ở và buôn bán tại khu phố G, phường P, tỉnh Đồng Nai và rủ L đánh “bầu cua” thắng thua bằng tiền thì L đồng ý. Lài lấy 01 bộ bầu cua ra xóc cho ông V đánh mỗi ván từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì Phạm Khắc Đ; Nguyễn Văn T3; Nguyễn Thị Hồng L3; Đào Ngọc G1; Võ Hoàng M đến cùng tham gia đánh bạc. Sau đó, Đ xin L cho xóc cái (làm cái) thì L đồng ý và đi vào phòng nghỉ, cả nhóm ngồi ngay tại cửa phòng trọ của L để tiếp tục đánh bầu cua thắng thua bằng tiền mỗi ván người tham gia đặt cược số tiền từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng.
Hình thức đánh “Bầu cua” như sau: Một bộ bầu cua gồm có 03 con xúc xắc hình vuông có 06 mặt, mỗi mặt được in 01 biểu tượng khác nhau gồm bầu, cua, tôm, cá, gà, nai và 01 tờ giấy cũng in hình các biểu tượng tương tự để dưới chiếu bạc. Khi chơi, người làm cái bỏ 03 con xúc xắc vào 01 cái đĩa, úp lên trên một hộp nhựa hoặc 01 cái bát lắc đều rồi đặt xuống chiếu bạc. Những người chơi bắt đầu đặt tiền vào một hoặc nhiều biểu tượng ở tờ giấy đặt dưới chiếu bạc. Khi người chơi đặt tiền xong thì người làm cái mở bát, nếu biểu tượng không xuất hiện thì người chơi thua tiền cho nhà cái. Ngược lại, nếu xuất hiện 01 biểu tượng thì người chơi thắng 01 lần tiền đặt cược, nếu xuất hiện 02 biểu tượng thì người chơi thắng 02 lần tiền đặt cược, xuất hiện 03 biểu tượng thì người chơi thắng 03 lần tiền đặt cược.
Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01 tháng 08 năm 2025, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an phường P, tỉnh Đồng Nai tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời thu giữ tang vật gồm:
Thu tại chiếu bạc: Số tiền 80.000 đồng; 01 bộ lắc bầu cua gồm: 01 tấm giấy kích thước (55 x 80)cm in hình “Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai”; 01 hộp nhựa tròn màu trắng, đen cao 10cm, rộng 18cm và 01 đĩa bằng kim loại màu trắng có kích thước tròn 23cm và 03 hột bầu cua làm bằng xốp kích thước (03 x 03)cm gồm 06 mặt in hình “Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai”.
Thu trên người các bị cáo gồm: Phạm Khắc Đ trong túi quần số tiền 1.300.000 đồng, trong ví da số tiền 1.200.000 đồng; Lý Văn V bên trong ví da số tiền 5.500.000 đồng; Nguyễn Văn T3 số tiền cầm trên tay 4.700.000 đồng; Lê Thị L số tiền cầm trên tay 200.000 đồng; Nguyễn Thị Hồng L3 số tiền 50.000 đồng và Đào Ngọc G1 số tiền 100.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định, số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau: Đ mang theo số tiền 4.060.000 đồng, sử dụng số tiền 2.860.000 đồng để đánh bạc; T3 mang theo số tiền 2.200.000 đồng và sử dụng hết vào việc đánh bạc; V mang theo số tiền 5.500.000 đồng, sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc; Hồng L3 mang theo số tiền 100.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc; G1 mang theo số tiền 120.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc; M mang theo số tiền 80.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc; L sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc và được Đ đưa tiền xâu là 200.000 đồng.
Mặc dù, các bị cáo khai nhận sử dụng số tiền là 6.560.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tuy nhiên sau khi thu giữ số tiền trên người các bị cáo, Cơ quan điều tra xác định các bị cáo sử dụng số tiền để đánh bạc gồm ở chiếu bạc có số tiền 80.000 đồng, Đ số tiền 1.300.000 đồng, T3 số tiền 4.700.000 đồng, V số tiền 1.000.000 đồng, G1 số tiền 100.000 đồng, L3 số tiền 50.000 đồng và L số tiền 400.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc là 7.630.000 đồng.
Quá trình điều tra, các bị cáo Đ, T3, L3, G1 và M thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo V và L thành khẩn khai báo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền thu giữ khi bắt quả tang là 13.130.000 đồng, trong đó số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.630.000 đồng; số tiền thu giữ của bị cáo V là 4.500.000 đồng và bị cáo Đ là 1.200.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc cần chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11, tỉnh Đồng Nai phục vụ quá trình truy tố, xét xử vụ án.
Đối với 01 tấm giấy kích thước (55 x 80)cm in hình “Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai”; 01 hộp nhựa; 01 đĩa bằng kim loại; 03 hột bầu cua là vật chứng vụ án nên chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11, tỉnh Đồng Nai phục vụ quá trình truy tố, xét xử vụ án.
Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo L sử dụng vào mục đích đánh bạc chưa giao nộp cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKS-KV11 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai truy tố các bị cáo L, V, Đ, T3, L3, G1, M về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; 50; 58; 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo V từ 06 - 09 tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo L từ 30.000.000 đồng - 40.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đ từ 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo T3 từ 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo G1 từ 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo L3 từ 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo M từ 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 01/CT-VKS-KV11 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai đã truy tố.
[2.1] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ tài sản, vật chứng vụ án, Kết luận điều tra cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc đánh bạc nên ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại nhà trọ mà bị cáo L thuê thuộc khu phố G, phường P, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo L, V, Đ, T3, G1, L3 và M đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức “Bầu cua” thắng thua với tổng số tiền là 7.630.000 đồng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015.
[2.2] Do đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội mà không có sự bàn bạc từ trước. Chính bị cáo V quá trình đến nhà thuê trọ của bị cáo L đã rủ rê và được bị cáo L mang bộ dụng cụ lắc bầu cua để đánh bạc cùng bị cáo V, sau đó các bị cáo Đ, T3, G1, L3, M lần lược đến sau và cùng tham gia đánh bạc, trong đó bị cáo Đ có đưa cho bị cáo L 200.000 đồng tiền xâu để phụ tiền điện.
Quá trình điều tra, xác định số tiền mà các bị cáo mang theo và sử dụng vào việc đánh bạc như sau:
Bị cáo Đ mang theo số tiền 4.060.000 đồng, sử dụng số tiền 2.860.000 đồng để đánh bạc; bị cáo T3 mang theo số tiền 2.200.000 đồng và sử dụng hết vào việc đánh bạc; bị cáo V mang theo số tiền 5.500.000 đồng, sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc; bị cáo L3 mang theo số tiền 100.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo G1 mang theo số tiền 120.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo M mang theo số tiền 80.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo L sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc và được bị cáo Đ đưa tiền xâu là 200.000 đồng. Mặc dù, các bị cáo khai nhận sử dụng số tiền là 6.560.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tuy nhiên sau khi thu giữ số tiền trên người các bị cáo, Cơ quan điều tra xác định các bị cáo sử dụng số tiền để đánh bạc gồm ở chiếu bạc có số tiền 80.000 đồng, bị cáo Đ số tiền 1.300.000 đồng, bị cáo T3 số tiền 4.700.000 đồng, bị cáo V số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo G1 số tiền 100.000 đồng, bị cáo L3 số tiền 50.000 đồng và bị cáo L số tiền 400.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc là 7.630.000 đồng.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, trong quá trình thực hiện tội phạm, các bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Mặc dù biết rõ việc đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền một cách nhanh chóng mà các bị cáo đã thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của khu dân cư. Hành vi đó còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm chiếm đoạt tài sản để có tiền đánh bạc.
Trong vụ án này, bị cáo V là người có 01 tiền án, cụ thể là ngày 14 tháng 4 năm 2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội “đánh bạc” (Bản án số 16/2023/HS-ST), bị cáo chưa thi hành xong Bản án, cho nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn là người có nhân thân xấu, cụ thể là ngày 09 tháng 12 năm 2022 phạm tội “đánh bạc”, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo (Bản án số 29/2022/HS-ST) đã chấp hành xong. Riêng bị cáo L là người có nhân thân xấu, cụ thể là ngày 12 tháng 3 năm 2014 phạm tội “đánh bạc”, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13) xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ (Bản án số 24/2014/HSST) đã chấp hành xong Bản án nhưng các bị cáo V, L không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho mình mà lần này các các bị cáo V, L tiếp tục đi vào con đường phạm tội, cho nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác tương xứng với hành vi của các bị cáo gây ra. Vì vậy, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo L, V, Đ, T3, G1, L3, M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cần xử các bị cáo một mức án nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Đ, T3, G1, L3, M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; riêng các bị cáo L, V thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ nên cần được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
-
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
-
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền thu giữ khi bắt quả tang là 13.130.000 đồng, trong đó số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.630.000 đồng cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; số tiền thu giữ còn lại của bị cáo V là 4.500.000 đồng và bị cáo Đ là 1.200.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với 01 tấm giấy kích thước (55 x 80)cm in hình “Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai”; 01 hộp nhựa; 01 đĩa bằng kim loại; 03 hột bầu cua của bị cáo L là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo L sử dụng vào mục đích đánh bạc chưa giao nộp nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
-
[5] Đối với lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
-
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
-
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị L (tên gọi khác: T, G); Lý Văn V; Phạm Khắc Đ; Nguyễn Văn T3; Đào Ngọc G1 (tên gọi khác: N); Nguyễn Thị Hồng L3 (tên gọi khác: Bé B); Võ Hoàng M phạm tội “Đánh bạc”.
-
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử hình phạt chính đối với bị cáo Lý Văn V 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01 tháng 8 năm 2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử hình phạt chính đối với bị cáo Lê Thị L số tiền là 30.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử hình phạt chính đối với bị cáo Phạm Khắc Đ số tiền là 20.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Văn T3 số tiền là 20.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử hình phạt chính đối với bị cáo Đào Ngọc G1 số tiền là 20.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng L3 số tiền là 20.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 35 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử hình phạt chính đối với bị cáo Võ Hoàng M số tiền là 20.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
3. Về vật chứng của vụ án:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.630.000 đồng.
Tuyên trả lại cho bị cáo Lý Văn V số tiền 4.500.000 đồng; bị cáo Phạm Khắc Đ số tiền là 1.200.000 đồng.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 tấm giấy kích thước (55 x 80)cm in hình “Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai”; 01 hộp nhựa; 01 đĩa bằng kim loại; 03 hột bầu cua của bị cáo Lê Thị L.
Tuyên truy thu của bị cáo Lê Thị L số tiền 200.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số NK 25/21, ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
-
4. Về án phí HSST:
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Lê Thị L; Lý Văn V; Phạm Khắc Đ; Nguyễn Văn T3; Đào Ngọc G1; Nguyễn Thị Hồng L3; Võ Hoàng M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
-
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VĂN PHÚ VINH |
Bản án số 39/2025/HSST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 39/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Lài và các đồng phạm phạm tội "đánh bạc"
