|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 39/2025/HSST Ngày 28-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đỗ Minh
- Ông: Nguyễn Đức Thiện
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Bùi Đình T, sinh năm 1991 tại Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đình T1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1967; có vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1993 và 02 con, con lớn sinh năm 2015 con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 01 (Quyết định số 3071 ngày 30/9/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh P, đưa Bùi Đình T vào cơ sở giáo dưỡng 24 tháng. Tuyên chấp hành xong ngày 30/8/2013); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V – Trại tạm giam Công an tỉnh P (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu C, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 09/01/2025, khi tổ công tác Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ tại khu E, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì thấy bị cáo T có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra và bị cáo đã tự giác giao nộp 02 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, bên ngoài mỗi túi cuốn bằng băng dính màu đen, bên trong có 02 túi đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng đang cầm trong bàn tay trái. Bị cáo khai nhận đây là ma tuý đá, mục đích để sử dụng cho bản thân. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo, thu giữ và niêm phong gói ma tuý có đặc điểm như đã nêu trên theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ, số IMEI1: 353317096542775, kèm 01 sim trong máy số: 0968.755.595; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu ghi xám, đã qua sử dụng, BKS: 19S1-130.39, số khung RLHJF46C9DY410076, số máy JF4E0112451.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V tiến hành xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu với bị cáo và cho kết quả dương tính với chất METHAMPHETAMINE.
Tại Kết luận giám định số 64/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 02 túi nilon gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 0,309 gam;
*Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo khai nhận, khoảng hơn 13 giờ ngày 09/01/2025, bị cáo đi bộ đến nhà anh Nguyễn Văn T3 SN: 1982, địa chỉ: Khu C, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ để mua ma túy đá về sử dụng. Khi đến nơi, bị cáo thấy chỉ mình anh T3 ở nhà. Bị cáo hỏi anh T3 có ma túy đá không, bán cho bị cáo 1.000.000đ (một triệu đồng) ma túy đá. Anh T3 nói có, nhận 1.000.000 đồng và đưa lại cho bị cáo 02 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, bên ngoài cuốn băng dính màu đen, bên trong cả hai túi đều là ma túy đá. Sau đó, bị cáo có hỏi mượn xe mô tô của T3 để xuống thành phố V có việc. Anh T3 đồng ý cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô BKS: 19S1 - 13039 nhãn hiệu Honda Airblade của anh T3. Bị cáo điều khiển xe trên và cầm ma túy trong lòng bàn tay trái đi xuống thành phố V. Khi đi đến khu E, xã T, thành phố V, bị cáo dừng xe tìm chỗ sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện như đã trình bày ở trên. Ngoài lời khai trên, bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh việc anh T3 bán ma túy đá cho bị cáo.
Ngoài ra bị cáo còn khai: Khoảng 8 giờ 30 ngày 07/01/2025 bị cáo đã mua được 500.000₫ ma túy đá của một người đàn ông, bị cáo không quen biết, khoảng 40 tuổi, ở khu vực ngã ba xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Sau khi mua được ma túy bị cáo đã cầm về nhà và sử dụng hết cho bản thân.
Ngày 09/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra đã triệu tập anh T3 đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, anh T3 khai: Anh không thừa nhận việc đã bán 02 túi ma túy đá cho bị cáo giá 1.000.000₫ vào ngày 09/01/2025 như lời khai của bị cáo. Anh xác nhận việc cho bị cáo mượn xe mô tô BKS: 19S1 - 13039 nhãn hiệu Honda Airblade của mình. Khi mượn xe, bị cáo chỉ nói đi có việc nên anh không biết bị cáo mượn xe để vận chuyển ma túy túy đá.
Đối với lời khai của bị cáo về việc anh T3 bán ma túy đá cho bị cáo: Do Toàn không thừa nhận hành vi này và bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi này nên C Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo ngày 07/01/2025, do T không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể ở đâu, ngoài lời khai không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào..
Cáo trạng số 20/CT-VKS-VT ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Thừa nhận Bản kết luận giám định số 64/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh P là đúng.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Đình T từ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù đến 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ, số IMEI1: 353317096542775 của bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 64/KL/KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả lại sau giám định có chứa 0,298 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định;
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0968.755.595 là sim của bị cáo Bùi Đình T.
[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/01/2025, tại khu E, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,309 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe con người, sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo T có nhân thân xấu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ độc quyền chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện. Ma túy là nguyên nhân chính đã đến nhiều tệ nạn xã hội gây mất an ninh trật tự xã hội, ảnh hưởng sức khỏe của con người, sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định. Tuy nhiên, bị cáo đang bị tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ, số IMEI1: 353317096542775, đã qua sử dụng là tài sản riêng của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu sung công quỹ điện thoại này là phù hợp.
Về vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:
Đối với 0,298 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đã được niêm phong của Phòng K là vật chứng của vụ án, là vật cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 sim số 0968.755.595 thu giữ của bị cáo: Đây là sim của bị cáo. Bị cáo không sử dụng để liên lạc mua ma túy, sim số này không có giá trị. Tại phiên tòa, Bị cáo T không đề nghị lấy lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 19S1 - 13039 nhãn hiệu Honda Airblade thu giữ của bị cáo: Đây là vật chứng vụ án. Quá trình điều tra xác định đây là xe của anh T3. Khi anh T3 cho bị cáo mượn xe không biết là để bị cáo dùng vận chuyển ma túy. Vì vậy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại chiếc xe này cho anh T3 là phù hợp.
Đối với anh T3: Do không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh việc anh T3 đã bán ma túy cho bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý anh T3 là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo: Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V chưa xác định được người đàn ông này. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trong cùng vụ án này là phù hợp.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp. Đối hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đúng so với hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Đình T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ, số IMEI1: 353317096542775 của bị cáo Bùi Đình T.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 64/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của phòng K Công an tỉnh P chứa 0,298 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại sau giám định; 01 sim số 0968.755.595 của bị cáo T.
(Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên bản bàn giao ngày 26/02/2025 giữa Công an thành phố V với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Đình T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 39/2025/HSST ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
