Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 39/2025/HSST

Ngày: 27/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

———————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Ty

Ông Lê Quang Vinh

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST – HS ngày 17/02/2025 đối với bị cáo:

Mai Thị N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 03/02/1996, tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; NĐKTT: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Mai Văn Đ; Con bà: Nguyễn Thị K; Chồng, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/9/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tuyên phạt 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bản án số 525/2021/HSPT ngày 22/12/2021 của Toà án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng y án sơ thẩm. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam G – Bộ C2, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai và được trích xuất đến Trại tạm giam Công an tỉnh T để phục vụ yêu cầu điều tra, giải quyết vụ án; Có mặt.

  • * Người bào chữa: Bị cáo từ chối người bào chữa (BL 390, 412)
  • * Người bị hại:
    1. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1967. Có mặt.
    2. Bà Mai Thị P, sinh năm 1970. Có mặt.

    Cùng địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Trịnh Thế Q, sinh năm 1974. Có đơn xin xử vắng mặt.
    2. Chị Phan Thị L, sinh năm 1983. Có đơn xin xử vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Mai Thị N thường xuyên đi tuyến N, Thanh Hóa - Hà Nội bằng xe khách của anh Trịnh Thế Q, sinh năm 1974, ở thôn Y, xã N, huyện N. Do là người cùng xã, nên N đã giới thiệu với anh Q, bản thân đang làm việc ở Bộ C2, có nhiều mối quan hệ, nếu ai có nhu cầu xin đi học, đi làm trong ngành Công an thì Ngát sẽ giúp. Nghe Ngát giới thiệu, anh Q về kể lại với những người xung quanh hàng xóm nên anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1967, ở Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã nhờ anh Q xin cho con trai là cháu Nguyễn Đức C (sinh năm 1998, đang học Đại học Mỏ) được tuyển dụng vào Học viện C3 và chị Mai Thị P, sinh năm 1970 cùng ở Thôn E, xã N, huyện N đặt vấn đề xin cho con trai là Trịnh Quốc C1 (sinh năm 1997, đang là Chiến sỹ nghĩa vụ tại Trại giam T4, Bộ C2) vào Học viện C3.

Được anh N1, chị P nhờ, anh Q đã trao đổi lại với N để xin cho cháu C và cháu C1 vào Học viện C3, N đồng ý, đồng thời Ngát yêu cầu các gia đình phải chuyển kinh phí để lấy tiền liên hệ, sau đó, anh Q nói lại cho anh N1 và chị P biết. Ngày 26/6/2018, anh N1, chị P mỗi người đã chuyển 20.000.000đ vào số tài khoản 2001206336727 của Đinh Văn H, sinh năm 1994, nơi ở hiện nay: Số C Lô P, C xã T, phường B, quận B, TP . (số tài khoản này do N cung cấp), tiếp đó anh Q và vợ là chị Phan Thị L trực tiếp nhận của gia đình anh N1 và gia đình chị P 300.000.000đ rồi chuyển khoản và đưa tiền mặt theo yêu cầu của N. Cụ thể: Ngày 19/9/2018, chị L chuyển vào tài khoản của Mai Thị H1, sinh năm 1990, chỗ ở thôn Đ, xã N, huyện N (chị gái N) 30.000.000đ; ngày 13/10/2018, chị L chuyển vào tài khoản Mai Thị T, sinh năm 1992, ở xã N, huyện N, 02 lần 70.000.000₫ (BL: 305, 306); ngày 24/10/2018, chị L chuyển vào tài khoản của Trần Thị T1 (bạn N), sinh năm 1996, trú tại: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 40.000.000đ, toàn bộ số tài khoản này do N là người cung cấp. Số còn lại N đến nhà anh Q lấy tiền mặt nhưng không viết giấy biên nhận.

Sau đó, N không thông qua vợ chồng anh Q, chị L mà trực tiếp gặp, gọi điện, nhắn tin cho gia đình anh N1 và chị P, giới thiệu bản thân học An ninh mạng, làm ở Cục Tình báo, trợ giảng cho các thầy, cô giáo ở Học viện C3, quen nhiều lãnh đạo cao cấp của Bộ C2, nếu ai có nguyện vọng vào ngành thì N sẽ xin giúp. Do vậy, gia đình anh N1, chị P càng tin tưởng và thực hiện theo các yêu cầu của N, đồng thời anh N1 đặt vấn đề nhờ N xin thêm cho cháu Nguyễn Minh T2 (sinh năm 1995, tốt nghiệp Công nghệ thông tin, Đại học Kl) được tuyển dụng vào ngành Công an, N đồng ý. Thấy anh N1, chị P tin tưởng, N đã đưa hồ sơ và hướng dẫn các cháu C1, T2, C điền thông tin rồi nộp cho N. Sau khi nhận hồ sơ của cháu C, T2 và C1, N đã đưa ra nhiều lý do yêu cầu gia đình anh N1, chị P chuyển tiền để làm thủ tục xin việc. Từ tháng 10/2018 đến tháng 5/2019, ngoài số tiền anh N1, chị P đưa cho anh Q 340.000.000đ thì N còn nhận của gia đình anh N1 965.000.000đ để xin cho cháu Nguyễn Minh T2, Nguyễn Đức C và nhận của gia đình chị P 544.000.000đ để xin cho cháu Trịnh Quốc C1 vào Học viện C3. Toàn bộ số tiền nhận của gia đình anh N1, chị P bằng tiền mặt và nhận qua tài khoản ngân hàng mang tên Trần Thị T1.

Như vậy, tổng số tiền N đã nhận của anh Nguyễn Văn N1 là 1.135.000.000₫ và nhận của chị Mai Thị P 714.000.000đ. Tuy nhiên, cháu C1, T2 và C không được tuyển dụng vào Lớp tình thương của Học viện C3 như đã hứa, gia đình anh N1, chị P nhiều lần yêu cầu trả lại tiền nhưng N không trả và đưa ra nhiều lý do trốn tránh việc trả nợ. Ngát khai số tiền trên đã đưa cho Trịnh Thị H2 và người có tên là T3 làm việc ở bộ phận hồ sơ và tuyển sinh của Học viện C4. Biết mình bị lừa gia đình anh N1 và chị P đã làm đơn tố cáo hành vi của N đến Công an tỉnh T để giải quyết. Sau đó, đến ngày 06/9/2020, N tiếp tục phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và bị Công an tỉnh G bắt, số tiền chiếm đoạt của gia đình anh N1, chị P đến nay vẫn chưa trả.

Kết quả xác minh tại Học viện C3: Ngày 19/3/2021, Học viện C3 – Bộ C2 cung cấp thông tin: Năm 2018, Học viện C3 không mở lớp xét tuyển cho các con em trong ngành, các gia đình chính sách; Học viện không có cán bộ nào tên Trịnh Thị H2 cùng T3 và T1 làm việc ở bộ phận tiếp nhận hồ sơ và tuyển sinh, tuyển dụng của Học viện.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Mai Thị N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai người bị hại, người liên quan và các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về hành vi của những người liên quan:

- Đối với, vợ chồng anh Trịnh Thế Q - chị Phan Thị L là người được N đưa ra thông tin, sau đó đã giới thiệu cho gia đình anh N1 và gia đình chị P xin cho các cháu vào Lớp tình thương của Học viện C3 như Ngát giới thiệu và đã nhận của 02 gia đình số tiền là 340.000.000đ. Quá trình điều tra đã làm rõ, toàn bộ số tiền vợ chồng anh Q nhận của gia đình anh N1, chị P đã đưa hết cho N, việc N đưa ra thông tin gian dối để lừa đảo anh Q, chị L hoàn toàn không biết, không được Ngát bàn bạc và được hưởng lợi gì. Do đó, hành vi của anh Trịnh Thế Q, chị Phan Thị L không cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không xử lý hình sự là có căn cứ và phù hợp.

- Đối với, chị Trần Thị T1, chị Mai Thị H1 là những người đã cho Mai Thị N mượn tài khoản ngân hàng để thực hiện việc nhận, chuyển đối với khoản tiền gia đình anh N1, chị P và chị L đưa để xin việc cho cháu C, T2, C1. Tuy nhiên, chị T1, chị H1 không biết N mượn tài khoản ngân hàng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc N nhận tiền của gia đình anh N1, gia đình chị P và chị L để làm gì, chị T1, chị H1 không được Ngát bàn bạc và hưởng lợi gì nên hành vi của Trần Thị T1 và Mai Thị H1 không cấu thành tội phạm và không đồng phạm với N về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Đối với anh Đinh Văn H là chủ tài khoản 2001206336727, ngày 26/6/2018 đã nhận của anh Nguyễn Văn N1 và chị Mai Thị P mỗi người 20.000.000đ để xin cho cháu C và cháu C1. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã làm rõ số tiền này N nhờ anh H nhận giúp, việc N nhận khoản tiền này để làm gì anh H không biết. Ngoài ra, anh H khai báo N còn nhận của gia đình một khoản tiền để xin việc cho anh H nhưng sau đó không thực hiện. Do đó, hành vi của anh H không đồng phạm với N và việc N nhận tiền của gia đình anh H để xin việc không đủ căn cứ giải quyết.

- Đối với chị Mai Thị T, chủ cửa hàng quần áo tại xóm A xã N. Năm 2018, N thường xuyên đến mua đồ chịu và vay tiền, sau đó trả bằng số tài khoản của người khác cho chị T. Do đó, hành vi của Mai Thị T không đồng phạm với Mai Thị N.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Mai Thị N phải trả lại cho ông Nguyễn Văn N1 số tiền 1.135.000.000đ và gia đình bà Mai Thị P số tiền 714.000.000đ.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS- P3, ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố Mai Thị N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

* Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mai Thị N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điểm a Khoản 4 Điều 174; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 BLHS.

Đề nghị xử phạt: Mai Thị N từ 14 - 15 năm tù. Tổng hợp với 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 525/2021/HSPT ngày 22/12/2021 của Toà án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 24 – 25 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo N bồi thường cho ông Nguyễn Văn N1 số tiền 1.135.000.000đ và gia đình bà Mai Thị P số tiền 714.000.000đ.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 về mức thu án phí, lệ phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm.

* Quan điểm của bị cáo: Việc truy tố của VKS nhân dân tỉnh T là đúng. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì thành khẩn khai báo các hành vi phạm tội. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm hòa nhập cuộc sống cộng đồng.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan CSĐT, điều tra viên Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo xác định:

Trong vụ án này, do cần tiền chi tiêu cá nhân. Mai Thị N đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối là bản thân học An ninh mạng, làm ở Cục Tình báo Bộ C2, trợ giảng cho các thầy, cô giáo ở Học viện C3, có nhiều mối quan hệ với lãnh đạo cao cấp của Bộ C2, có khả năng xin việc vào ngành Công an và Học viện C3. Tin tưởng N có thể xin việc được cho người thân của mình, từ ngày 26/6/2018 đến tháng 10/2018 gia đình ông Nguyễn Văn N1 đã chuyển cho N 1.135.000.000đ và gia đình bà Mai Thị P đã chuyển cho N 714.000.000đ. Tuy nhiên, nhận tiền của gia đình ông N1, bà P, N không liên hệ với ai để đặt vấn đề xin việc cho các người thân của bị hại như đã hứa mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Mai Thị N đủ các dấu hiệu cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do giá trị tài sản chiếm đoạt trên 500.000.000đ, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào Điểm a Khoản 4 Điều 174 BLHS.

[3] Xét tính chất vụ án và trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Đây là vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của Mai Thị N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an cần phải xử lý nghiêm minh.

Trong vụ án này, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tình tiết tăng nặng là phạm tội từ 02 lần trở lên theo Điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS 2015, số tiền chiếm đoạt bị cáo không khắc phục được, nên cần thiết phải cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian dài mới tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả mà hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt vì bị cáo thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt của 02 bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của gia đình ông Nguyễn Văn N1 là 1.135.000.000đ và gia đình bà Mai Thị P là 714.000.000đ. Buộc bị cáo Mai Thị N phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại là phù hợp.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch. Bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm a Khoản 4 Điều 174; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48; Điều 56 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. (thêm căn cứ tổng hợp HP)

Tuyên bố: Mai Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Mai Thị N 14 (Mười bốn) năm tù. Tổng hợp với 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 525/2021/HSPT ngày 22/12/2021 của Toà án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 24 (H) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành bản án số 525/2021/HSPT là 06/9/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo N bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn N1 số tiền 1.135.000.000đ và gia đình bà Mai Thị P số tiền 714.000.000đ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST và 9.245.000đ án phí dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND Cấp cao.
  • -VKSND Cấp cao
  • -VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • -Công an tỉnh Thanh Hóa
  • -Thi hành án DS tỉnh Thanh Hóa
  • -Bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác
  • -Lưu hồ sơ vụ án
  • -Lưu VP Toà Hình sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 39/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Thị Ng "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger