TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số : 39/2025/HSST Ngày : 26/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Võ Kim Hường;
2/ Bà Trần Quang Cảnh;
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Diệu Hiền là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN QUỲNH THẢO N1; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 2002 tại tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: Phòng 304 nhà số A Đ, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1976 và bà Trần Thị N, sinh năm 1977; Chồng, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024;
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Trương Trần Hoàng B, sinh năm 1998, địa chỉ: A Miếu G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
2/ Chị Lê Thị Ngọc Đ, sinh năm 2002, địa chỉ: 2 ấp G, Nguyễn Kim C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;
(những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quỳnh Thảo N1 biết về nhóm mạng xã hội Zalo tên "noel noel noel", chuyên phục vụ tiếp bia cho khách tại quán nhậu, quán karaoke và cũng có người đi bán dâm cho khách. Do không có nghề nghiệp ổn định nên N1 sử dụng tài khoản tên “Naaa" (đăng ký bằng số điện thoại 0399.975.xxx) tham gia vào nhóm trên để đi phục vụ tiếp bia cho khách kiếm thêm thu nhập.
Khoảng 18 giờ ngày 30/10/2024, Trương Trần Hoàng B sử dụng tài khoản zalo tên “Lê K (my vi)" liên hệ với N1 để hỏi mua dâm. N1 nảy sinh ý định môi giới người khác đi bán dâm để thu lợi bất chính nên trả lời là không có đi khách nhưng N1 sẽ giới thiệu bạn đi bán dâm cho B. N1 báo giá là 3.500.000 đồng thì B đồng ý và đề nghị N1 gửi hình ảnh của gái bán dâm qua Zalo. N1 liền đăng thông tin trên nhóm "noel noel noel" với nội dung “V về tay 2tr5 – 3 tr. Cần cg ở tân phú nha" (có nghĩa là: đi bán dâm về liền ở T, tiền về tay từ 2.500.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Cần con gái ở T). Ngay sau đó có khoảng 7, 8 gái bán dâm nhắn tin và gửi hình ảnh qua zalo riêng cho N1 để giới thiệu cho B mua dâm, trong đó có Lê Thị Ngọc Đ sử dụng tài khoản Zalo "San". Đào nhắn tin cho N1 “e gỡi vl 3 tan phú", N1 hiểu là Đ đồng ý đi bán dâm ở T về liền với giá 3.000.000 đồng. N1 chuyển hình ảnh của Đ qua cho B, B đồng ý. N1 nhắn tin đề nghị B đặt cọc trước 1.000.000 đồng để làm tin và báo địa chỉ, số phòng để gái bán dâm đến. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, B sử dụng tài khoản Ngân hàng T1 mang tên “TRUONG TRAN HOANG BAO” chuyển qua tại khoản Ngân hàng V1 số 1018782235 của N1 số tiền 1.000.000 đồng và nhắn địa điểm mua bán dâm là phòng 106 khách sạn A địa chỉ 5 đường G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau đó, N1 nhắn tin cho Đ biết N1 đã chốt giá bán dâm với B là 3.500.000 đồng, B đã chuyển trước 1.000.000 đồng và đề nghị Đào nhắn cho N1 số tài khoản ngân hàng để N1 chuyển khoản qua 500.000 đồng, N1 giữ lại 500.000 đồng tiền công môi giới, còn 2.500.000 đồng khách sẽ trả trực tiếp cho Đ. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N1 sử dụng số tài khoản 19072339278018 Ngân hàng T1 chuyển số tiền 500.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng Q (M) số [...] mang tên “LE THỊ NGOC DAO". N1 nhắn tin báo địa điểm bán dâm là tại phòng 106 khách sạn AMY cho Đ biết.
Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Đ vào phòng 106 khách sạn AMY gặp B, tại đây B thanh toán số tiền mua dâm còn lại cho Đ, B chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng và đưa thêm tiền mặt 500.000 đồng cho Đ. Sau đó, Đ và B quan hệ tình dục,
2
được một lúc thì Công an quận T kiểm tra phát hiện B và Đ có hành vi mua bán dâm nên đưa về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Quỳnh Thảo N1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
* Vật chứng thu giữ:
- Một (01) bao cao su đã qua sử dụng;
- - Một (01) vỏ bao cao su có chữ ‘SML001” đã qua sử dụng;
- - Một (01) hộp bao cao su có chữ “SML001” đã qua sử dụng;
- - Một (01) điện thoại di động Iphone màu đen, số Imei: 353900102351172 thu giữ của Nguyễn Quỳnh Thảo N1 liên quan đến việc môi giới mại dâm;
- - Một (01) điện thoại di động Iphone, số Imei: 357414197224712 thu giữ của Nguyễn Quỳnh Thảo N1 sử dụng liên lạc cá nhân;
- - Tiền Việt Nam:
- + Số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng thu giữ của Lê Thị Ngọc Đ là tiền do bán dâm mà có;
- + Số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng thu giữ của Nguyễn Quỳnh Thảo N1 là tiền thu lợi bất chính từ việc môi giới mại dâm do bị cáo N1 tự nguyện giao nộp;
Các vật chứng nêu trên được nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng số 03/LNK ngày 11/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSQ.TP ngày 17 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Quỳnh Thảo N1 về tội “Môi giới mại dâm” theo Khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 328; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Quỳnh Thảo N1 mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án;
- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
3
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Quỳnh Thảo N1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở để xác định: Ngày 30/10/2024, Nguyễn Quỳnh Thảo N1 đã có hành vi môi giới Lê Thị Ngọc Đ bán dâm cho Trương Trần Hoàng B tại phòng 106 khách sạn A địa chỉ 5 G, phường T, quận T với với số tiền 3.500.000 đồng nhằm thu lợi bất chính số tiền 500.000 đồng thì bị phát hiện. Do đó, hành vi của bị cáo N1 đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, trật tự an toàn xã hội, hệ lụy mà nó mang lại làm vi phạm những chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của Việt Nam, làm ảnh hưởng đến lối sống văn minh, cần phải xử lý nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị can và răn đe, phòng ngừa chung đối với xã hội. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Không có;
- - Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm
4
trọng. Ngoài ra, quá trình điều tra, bị cáo đã chủ động nộp lại số tiền bất chính do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đã bị tạm giam một thời gian nhất định nên không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cần áp dụng Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HD9TP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng về Án treo cho bị cáo được hưởng án treo, có ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo và phòng ngừa bị cáo tiếp tục phạm tội đồng thời cũng răn đe trong xã hội.
Do bị cáo N1 hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác;
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có bất gì yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với một (01) bao cao su đã qua sử dụng; một (01) vỏ bao cao su có chữ “SML001” đã qua sử dụng; một (01) hộp bao cao su có chữ “SML001” đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số công cụ sử dụng vào việc bán dâm, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;
Đối với một (01) điện thoại di động Iphone màu đen, số Imei: 353900102351172 thu giữ của Nguyễn Quỳnh Thảo N1 sử dụng môi giới mại dâm. Hội đồng xét xử xét thấy đây là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng thu giữ của Lê Thị Ngọc Đ là tiền do bán dâm mà có, số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng thu giữ của Nguyễn Quỳnh Thảo N1 là tiền thu lợi bất chính từ việc môi giới mại dâm. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền có được từ việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà Nước;
Đối với một (01) điện thoại di động Iphone, số Imei: 357414197224712 thu giữ của Nguyễn Quỳnh Thảo N1 sử dụng liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo;
5
Các vật chứng nêu trên được nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng số 03/LNK ngày 11/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ theo Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung một số tiền nhất định tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quỳnh Thảo N1 phạm tội “Môi giới mại dâm”
- Căn cứ Khoản 1 Điều 328; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo:
Nguyễn Quỳnh Thảo N1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Công an nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Áp dụng Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác;
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
* Áp dụng điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tịch thu tiêu huỷ một (01) bao cao su đã qua sử dụng; một (01) vỏ bao cao su có chữ ‘SML001” đã qua sử dụng; một (01) hộp bao cao su có chữ “SML001” đã qua sử dụng;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước một (01) điện thoại di động Iphone màu đen, số Imei: 353900102351172;
6
Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm ngàn) đồng;
Trả cho bị cáo một (01) điện thoại di động Iphone, số Imei: 357414197224712;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 03/PNK ngày 11/12/2024 của Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt/niêm yết bản án hợp lệ theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
7
Bản án số 39/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về môi giới mại dâm
- Số bản án: 39/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Quỳnh Thảo N1 phạm tội "Môi giới mại dâm"
