Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HSST

Ngày: 24/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lương Sỹ Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thanh Tâm; Nghề nghiệp: Cán bộ phụ nữ
  2. Ông Nguyễn Huy Đạt; Nghề nghiệp: Giáo viên

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa, bà Đặng Thị Lượng - Kiểm sát viên.

Vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 24/11/2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST - HS ngày 09/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST - HS, ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Cao Thái S; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20 tháng 02 năm 2005 tại: tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: K, phường T, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 08/12. Chức vụ, cấp bậc: Không. Họ tên cha: Cao Khánh M; Sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: K, phường T, tỉnh Nghệ An. Họ tên mẹ: Trần Thị H; Sinh năm 1981; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Xã Đ, tỉnh Nghệ An. Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 11/3/2021, bị Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù giam tại bản án số 07/2021/HS-ST về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/3/2022. Ngày 14/4/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù giam tại bản án số 87/2023/HS-ST về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 28/9/2023, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt y án sơ thẩm tại bản án số 150/2023/HS-PT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2025 (Hai lần phạm tội này bị cáo thực hiện khi chưa đủ 18 tuổi nên không bị coi là có án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

2. Họ tên: Cao Thái K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 23 tháng 10 năm 2007 tại: Tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: K, phường T, tỉnh Nghệ An.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 06/10. Chức vụ, cấp bậc: Không; Họ tên cha: Cao Khánh M; Sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: K, phường T, tỉnh Nghệ An. Họ tên mẹ: Trần Thị H; Sinh năm 1981; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Xã Đ, tỉnh Nghệ An. Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi (17 tuổi 8 tháng 19 ngày).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

  • * Người bào bào chữa cho bị cáo Cao Thái K: Ông Trần Thanh M1, sinh năm 1985 - Trợ giúp viên pháp lý: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H (có mặt).
  • * Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Cao Thái K: Ông Cao Khánh M, sinh năm: 1975; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Khối H, phường T, tỉnh Nghệ An (có mặt).
  • * Người bị hại: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1982; Nghề nghiệp: Buôn bán; Địa chỉ: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Cháu Nguyễn Danh Mạnh T1, sinh ngày 02/01/2007; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Xóm S, xã K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
    • - Cháu Huỳnh Bá Đ, sinh năm: 2004; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: K, phường T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
    • - Anh Nguyễn Tiến T2, sinh năm: 1991; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Địa chỉ: K, phường T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
    • - Ông Cao Khánh M, sinh năm: 1975; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Khối H, phường T, tỉnh Nghệ An (có mặt).
  • * Người làm chứng:
    • - Cháu Mai Thị Trúc L, sinh năm: 2006; Địa chỉ: Chung cư C, phường T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
    • - Cháu Nguyễn Khánh D, sinh năm: 2006; Địa chỉ: Đường N, phường T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
    • - Cháu Trần Quốc C, sinh năm: 2003; Địa chỉ: Đường H, phường V, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đêm ngày 11/7/2025, Cao Thái S rủ em trai ruột là Cao Thái K đến địa bàn xã N, tỉnh Hà Tĩnh để cướp tài sản của người dân đi đường, thì K đồng ý. Khoảng 1 giờ 00 phút ngày 12/7/2025, Cao Thái K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA - SH, màu đen, biển kiểm soát 37C1-155.78 đã được S tháo biển kiểm soát (S thuê của anh Nguyễn Tiến T2, chủ cửa hàng cho thuê xe mô tô Sáu B, ở số C, Võ Thị S1, phường T, tỉnh Nghệ An vào ngày 07/7/2025) chở Cao Thái S đến quán N tại đường L, phường T, tỉnh Nghệ An để mượn của Nguyễn Danh Mạnh T1 (sinh ngày 02/01/2007, trú tại xóm S, xã K, tỉnh Nghệ An) 01 (một) con dao găm hình lưỡi liềm màu đen dài 19cm, một đầu nhọn còn một đầu được đính khuy hình tròn làm

bằng kim loại, lưỡi dao được làm bằng kim loại dài 9 cm có lưỡi mài sắc, cán dao làm bằng nhựa dài 10 cm, vỏ bọc lưỡi dao được làm bằng nhựa dài 11 cm. S không nói cho T1 biết mục đích mượn dao để làm gì. Sau khi lấy dao từ T1, S cất vào trong túi quần bên phải, rồi Cao Thái K chở S đi qua một số tuyến đường của thành phố V (cũ), qua cầu B 2 đến địa phận huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (địa danh cũ), di chuyển qua nhiều tuyến đường để tìm người đi đường cướp tài sản của họ. Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 12/7/2025, Cao Thái S và Cao Thái K điều khiển xe đi theo hướng từ ngã ba chợ X đến biển X theo Tỉnh lộ 546, đến địa phận thôn K, xã N thì gặp chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1983, trú tại thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38X1-1702 chở một thùng cát tông đựng hoa quả phía sau đi từ cây xăng dầu T, xã N, tỉnh Hà Tĩnh về nhà. Cao Thái K điều khiển xe mô tô đuổi theo xe mô tô của chị T. Khi đuổi kịp, Cao Thái K điều khiển xe mô tô SH ép xe chị T vào lề đường. Cao Thái S rút dao từ trong túi quần ra, dơ về phía chị T và yêu cầu chị T dừng xe lại. Sau khi chị T dừng xe, Cao Thái S nhảy xuống khỏi xe mô tô SH, đứng sát chị T, tay phải cầm dao dơ lên trước phía mặt chị T, tay trái cầm lấy chiếc túi đeo chéo mà chị T đeo trước ngực yêu cầu chị T đưa tiền. Còn Cao Thái K tiếp tục điều khiển xe mô tô tiến lên phía trước một đoạn rồi dừng lại, ngồi trên xe để cảnh giới. Do sợ hãi nên chị T mở túi đeo cheo trước ngực, lấy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25, màu xanh đen, đã qua sử dụng trong túi ra kẹp ở nách bên phải rồi lấy 50.000 tiền Việt Nam đồng (bao gồm 03 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng) trong túi ra đưa cho Cao Thái S. Cao Thái S cầm số tiền này rồi tiếp tục kiểm tra túi và quần áo của chị T nhưng không phát hiện thêm được tài sản gì. Cao Thái S giật lấy điện thoại của chị T đang kẹp ở nách, chị T giằng co giữ lại thì Cao Thái S giật mạnh khiến chị T và xe mô tô bị ngã ra đường. Cao Thái S lên xe rồi Cao Thái K điều khiển xe bỏ chạy theo hướng lên ngã ba G. Đi được một đoạn thì Cao Thái K và Cao Thái S thống nhất trả lại điện thoại di động cho chị T, nên K điều khiển xe mô tô quay lại, S xuống xe đặt điện thoại bên cạnh vị trí chị T bị ngã. Lúc này, chị T đang bị xe mô tô đè lên chân, chị T có nhờ đỡ hộ nên Cao Thái S nhấc chiếc xe mô tô lên để chị T rút chân ra. Sau đó, Cao Thái K điều khiển xe chở Cao Thái S quay về theo đường cũ đến quán I, đường L, phường T, tỉnh Nghệ An chơi game đến sáng ngày 12/7/2025. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Cao Thái S đưa con dao găm đến trả lại cho Nguyễn Danh Mạnh T1. T1 nhờ bạn là Huỳnh Bá Đ (sinh năm 2004, trú tại khối I, phường T, tỉnh Nghệ An) cất giữ đến ngày 14/7/2025 thì bị lực lượng Công an thu giữ.

- Tại bản Kết luận giám định số 910/KL-KTHS ngày 01/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: 01 (một) con dao gửi giám định là dao găm thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ” của Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

- Bản kết luận định giá tài sản số: 741/KL - HĐĐG ngày 12/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong tố tụng hình sự kết luận giá trị của 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G, màu xanh, số seri: R5CX30797LJ, số IMEI (khe 1): 351137777644290, IMEI (khe 2):

352652687644296, máy cũ đã qua sử dụng là 1.867.000₫ (một triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

  • - Thu giữ từ bị cáo Cao Thái S:
    • + 01 (một) chiếc áo khoác nắng loại có mũ, mặt ngoài màu tím than, mặt trong áo màu ghi, phía trên cánh tay áo có 02 đường chỉ sọc màu trắng.
    • + 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA - SH, màu đen, mang BKS 37C1-155.78.
  • - Thu giữ từ bị cáo Cao Thái K:
    • + 01(một) áo phông cổ tròn ngắn tay màu đen, gắn nhãn mác Carlos, mặc trước có dán dòng chữ hoạ tiết, có dòng chữ “T k s l f v n l s d a l f c n s l d f j d v", chiều rộng vai áo là 58cm, chiều dài tính từ cổ áo xuống tà áo là 68cm, đã qua sử dụng.
    • + 01(một) quần lửng bò màu đen, phần nhãn mác ghi “DSQUARED2 DENIM”, có chiều rộng phần bụng là 50 cm, chiều dài là 52 cm, đã qua sử dụng.
  • - Thu giữ từ bị hại Nguyễn Thị T:
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G, màu xanh, số seri R5CX30797LJ, số IMEI (khe 1): 351137777644290, số IMEI (khe 2): 352652687644296, máy đã qua sử dụng.
  • - Thu giữ từ anh Huỳnh Bá Đ:
    • + 01 (một) con dao hình lưỡi liềm màu đen dài 19cm, một đầu nhọn còn một đầu được đính khuy hình tròn làm bằng kim loại, lưỡi dao được làm bằng kim loại dài 9 cm có lưỡi mài sắc, cán dao làm bằng nhựa dài 10 cm, vỏ bọc lưỡi dao được làm bằng nhựa dài 11 cm.

* Quá trình điều tra đã xử lý:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G, màu xanh, số seri R5CX30797LJ, số IMEI (khe 1): 351137777644290, số IMEI (khe B): 352652687644296 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị T, hiện đã trả lại cho chị T.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA - SH, màu đen, mang BKS 37C1-155.78 thuộc sở hữu của Nguyễn Tiến T2 (sinh năm 1991, trú tại khối G, phường T, tỉnh Nghệ An), hiện đã trả lại cho anh T2.

Các vật chứng còn lại chưa xử lý, đã được chuyển đến kho vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh để xử lý theo quy định pháp luật.

* Về phần dân sự: Quá trình điều tra, hai bị cáo đã nhờ bố đẻ là ông Cao Khánh M tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị T số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), gồm số tiền bị các bị cáo chiếm đoạt và số tiền tổn thất tinh thần. Hiện chị T không yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Tại bản cáo trạng số 01/CT - VKS - KV3 ngày 06/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Cao Thái S và Cao Thái K về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vức 3 - Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

* Về hình phạt chính:

  • - Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm o khoản 1 Điều 52, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Thái S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2025.
  • - Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 65, Điều 17, Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và khoản 1 Điều 101của Bộ luật Hình sự; Điều 124, khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Cao Thái K 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Cao Thái S vì bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định. Còn bị cáo Cao Thái K là vị thành niên.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, hai bị cáo đã nhờ bố đẻ là ông Cao Khánh M tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị T số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), gồm số tiền bị các bị cáo chiếm đoạt và tổn thất tinh thần. Hiện chị T không yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

* Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) con dao hình lưỡi liềm màu đen dài 19cm, một đầu nhọn còn một đầu được đính khuy hình tròn làm bằng kim loại, lưỡi dao được làm bằng kim loại dài 9 cm có lưỡi mài sắc, cán dao làm bằng nhựa dài 10 cm, vỏ bọc lưỡi dao được làm bằng nhựa dài 11 cm, là công cụ phạm tội
  • - 01 (một) chiếc áo khoác nắng loại có mũ, mặt ngoài màu tím than, mặt trong áo màu ghi, phía trên cánh tay áo có 02 đường chỉ sọc màu trắng, thu của Cao Thái S.
  • - 01 (một) áo phông cổ tròn ngắn tay màu đen, gắn nhãn mác Carlos, mặc trước có dán dòng chữ hoạ tiết, có dòng chữ “T k s l f v n l s d a l f c n s l d f j d v", chiều rộng vai áo là 58cm, chiều dài tính từ cổ áo xuống tà áo là 68cm, đã qua sử dụng, thu của Cao Thái K.
  • - 01 (một) quần lửng bò màu đen, phần nhãn mác ghi “DSQUARED2 DENIM”, có chiều rộng phần bụng là 50 cm, chiều dài là 52 cm, đã qua sử dụng, thu của Cao Thái K.

Con Dao đó là công cụ phạm tội, các đồ dùng nêu trên là của hai bị cáo, tại phiên tòa bị cáo Cao Thái S và Cao Thái K không yêu cầu nhận lại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điểu 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy.

Người bào chữa cho bị cáo Cao Thái K tranh luận: Đồng ý với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh đã truy tố đối với hai bị cáo, trong vụ án này bị cáo Cao Thái K giữ vai trò thứ yếu, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; nhân thân tốt, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường

thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo; Đầu thú; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi (17 tuổi 8 tháng 19 ngày) nên được áp dụng các quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận: Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để có cơ hội sữa chữa sai lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người bị hại, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt không có lý do. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt họ. Xét thấy những người nêu trên vắng mặt đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là có cơ sở và đúng pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về hành vi phạm tội và tội danh của các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 12/7/2025, Cao Thái S rủ em trai là Cao Thái K cùng sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HONDA - SH màu đen, tháo biển kiểm soát chở nhau đến Tỉnh lộ 546, thuộc địa bàn thôn K, xã N, tỉnh Hà Tĩnh chặn đường, dùng dao găm uy hiếp tinh thần chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung trị giá 1.867.000₫ (Một triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) và 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng N1, mục đích để tiêu xài cá nhân. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 1.917.000 (Một triệu chín trăm mười bảy nghìn đồng).

Bị cáo Cao Thái S và Cao Thái K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng dao găm uy hiếp tinh thần chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để phục vụ mục đích cá nhân các bị cáo vẫn thực hiện. Để thực hiện được mục đích của mình, bị cáo Cao Thái K điều khiển xe mô tô áp sát bị hại, lúc lại gần bị cáo Cao Thái S ngồi

phía sau, xuống xe dùng lời nói, hành động chĩa con Dao G về phía bị hại để đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T 50.000 đồng sau đó lục soát lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung trị giá 1.867.000 đồng. Tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 1.917.000 đồng, mục đích để tiêu xài cá nhân, hành vi của bị cáo S và bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, gây dư luận xấu, bức xúc trong quần chúng nhân dân và mất an toàn xã hội, với sự phân tích như trên và căn cứ vào thời gian, địa điểm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên khẳng định được rằng hành vi của bị cáo Cao Thái S và Cao Thái K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự. Cho nên bản Cáo trạng số 01/CT - VKS - KV3 ngày 06/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo Cao Thái S2 và Cao Thái K về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Quá trình thực hiện hành vi phạm tôi, các bị cáo Cao Thái S và Cao Thái K có chung ý chí, mục đích để cùng thực hiện hành vi phạm tôi cướp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong đó bị cáo Cao Thái S là người khởi xướng và là người thực hành. Bị cáo Cao Thái K là đồng phạm với vai trò giúp sức thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo Cao Thái S tuy không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân rất xấy bị cáo đã bị Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù giam tại bản án số 07/2021/HS-ST về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/3/2022. Ngày 14/4/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù giam tại bản án số 87/2023/HS-ST về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 28/09/2023, Toà án Nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt y án sơ thẩm tại bản án số 150/2023/HS-PT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2025. Hội đồng xét xử xét thấy trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Cao Thái K giữ vai trò giúp sức điều khiển xe chở bị cáo Cao Thái S đi, không trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo Cao Thái K thực hiện hành vi phạm tội do sự xúi dục của bị cáo S, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tác động với gia đình tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; Đầu thú; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi (17 tuổi 8 tháng 19 ngày) nên được áp dụng các quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có hai tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 và một một tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật

Hình sự. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo là đủ. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.

[2.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cáo Thái S3 có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Cao Thái K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cao Thái S và Cao Thái K sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo; Đầu thú; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên hai bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Cao Thái S: Quá trình học tập tại trường N2 có thành tích xuất sắc, đạt Huy chương giải vàng vô địch võ cổ truyền Nghệ An năm 2018, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong học tập, quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Cao Thái K: Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi (17 tuổi 8 tháng 19 ngày) nên được áp dụng các quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự.

[2.4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng......toàn bộ tài sản” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Bị cáo Cao Thái K khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[2.5]. Về xử lý vật chứng: Các vật chứng sau khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H làm rõ trả lại cho chủ sở hữu, Hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với: 01 (một) chiếc áo khoác nắng loại có mũ, mặt ngoài màu tím than, mặt trong áo màu ghi, phía trên cánh tay áo có 02 đường chỉ sọc màu trắng, thu của bị cáo Cao Thái S và 01 (một) áo phông cổ tròn ngắn tay màu đen, gắn nhãn mác Carlos, mặc trước có dán dòng chữ hoạ tiết, có dòng chữ “T k s l f v n l s d a l f c n s l d f j d v", chiều rộng vai áo là 58cm, chiều dài tính từ cổ áo xuống tà áo là 68cm, đã qua sử dụng, 01 (một) quần lửng bò màu đen, phần nhãn mác ghi “DSQUARED2 DENIM”, có chiều rộng phần bụng là 50 cm, chiều dài là 52 cm, đã qua sử dụng và 01 (một) áo khoác nắng màu tím than, không có nhãn mác, kích cỡ 3XL, có 03 sọc trắng ở 02 ống tay áo thu giữ của bị cáo Cao Thái K. Đây là tài sản của hai bị cáo, tại phiên toà hai bị cáo có ý kiến là không yêu cầu nhận lại, đồng thời tài sản này không còn giá trị sử dụng.

Thu giữ từ anh Huỳnh Bá Đ: 01 (một) con dao hình lưỡi liềm màu đen dài 19cm, một đầu nhọn còn một đầu được đính khuy hình tròn làm bằng kim loại, lưỡi dao được làm bằng kim loại dài 9 cm có lưỡi mài sắc, cán dao làm bằng nhựa dài 10 cm, vỏ bọc lưỡi dao được làm bằng nhựa dài 11 cm, đây được xác định là công cụ phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc dao này của anh Nguyễn Danh Mạnh T1, quá trình điều tra anh T1 không yêu cầu nhận lại. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm a khoản 1 Điểu 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các tài sản và vật chứng nêu trên.

[2.6]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, hai bị cáo đã nhờ bố đẻ là ông Cao Khánh M tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị T số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), gồm số tiền bị các bị cáo chiếm đoạt và tổn thất tinh thần. Hiện chị T không yêu cầu gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.

[3]. Người liên quan trong vụ án: Đối với Nguyễn Tiến T2, chủ cửa hàng cho thuê xe mô tô “Sáu Bưởi”, ở số C, Võ Thị S1, phường T, tỉnh Nghệ An là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA - SH, màu đen, biển kiểm soát 37C1-155.78 hai bị can Cao Thái S và Cao Thái K sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định, vào ngày 07/7/2025 hai bị can đã thuê chiếc xe này làm phương tiện đi lại, anh Nguyễn Tiến T2 không biết các bị cáo sử dụng xe mô tô của mình thực hiện hành vi phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với Nguyễn Danh Mạnh T1 là chủ sở hữu con dao găm Cao Thái S sử dụng để cướp tài sản. Xét khi cho mượn dao, T1 không biết mục đích Cao Thái S mượn dao để làm gì, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Mặt khác, tại bản Kết luận giám định số 910/KL-KTHS ngày 01/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Con dao Cao Thái S, Cao Thái K sử dụng cướp tài sản của chị Nguyễn Thị T gửi giám định là dao găm, thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ” của Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Danh Mạnh T1 và Huỳnh Bá Đ đều có hành vi “Tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ” nhưng đều chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này, nên không bị phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 306 BLHS năm 2015. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã chuyển hồ sơ đến Công an phường T, tỉnh Nghệ An đề nghị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Danh Mạnh T1 và Huỳnh Bá Đ theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn xét.

[4]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh thực hành quyền công tố tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xử lý về hình phạt chính; Hình phạt bổ sung; Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng liên quan đến vụ án như trong bản luận tội đã nêu. Căn cứ vào hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đề

nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận và sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt và các vấn đề khác liên quan.

[5]. Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Cao Thái K: Quan điểm bào chữa cho bị cáo là hoàn toàn khách quan, phù hợp với tính chất, mức độ của vụ án, vai trò, nhân thân của bị cáo, phù hợp với các quy định của pháp luật vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm đó là có căn cứ và sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt và các vấn đề khác liên quan.

[6]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt chính:

  • - Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm o khoản 1 Điều 52, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cao Thái S.
  • - Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 65, Điều 17, Điều 58; Các Điều 90, Điều 91, Điều 98 và khoản 1 Điều 101của Bộ luật Hình sự, Điều 124, khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên, đối với bị cáo Cao Thái K.

Tuyên bố bị cáo Cao Thái S và bị cáo Cao Thái K phạm tội “Cướp tài sản”.

  • - Xử phạt bị cáo Cao Thái S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2025.
  • - Xử phạt bị cáo Cao Thái K 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.

Giao bị cáo Cao Thái K cho chính quyền UBND; Công an phường T, tỉnh Nghệ An và gia đình bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điểu 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) con dao hình lưỡi liềm màu đen dài 19cm, một đầu nhọn còn một đầu được đính khuy hình tròn làm bằng kim loại, lưỡi dao được làm bằng kim loại dài 9 cm có lưỡi mài sắc, cán dao làm bằng nhựa dài 10 cm, vỏ bọc lưỡi dao được làm bằng nhựa dài 11 cm.
  • - 01 (một) chiếc áo khoác nắng loại có mũ, mặt ngoài màu tím than, mặt trong áo màu ghi, phía trên cánh tay áo có 02 đường chỉ sọc màu trắng.
  • - 01 (một) áo phông cổ tròn ngắn tay màu đen, gắn nhãn mác Carlos, mặc trước có dán dòng chữ hoạ tiết, có dòng chữ “T k s l f v n l s d a l f c n s l d f j d v", chiều rộng vai áo là 58cm, chiều dài tính từ cổ áo xuống tà áo là 68cm, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) quần lửng bò màu đen, phần nhãn mác ghi “DSQUARED2 DENIM”, có chiều rộng phần bụng là 50 cm, chiều dài là 52 cm, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) áo khoác nắng màu tím than, không có nhãn mác, kích cỡ 3XL, có 03 sọc trắng ở 02 ống tay áo. (Các vật chứng trên có đắc điểm như trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Phòng thi hành án dân sự khu vự 3 - Hà Tĩnh ngày 08/10/2025).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Cao Thái S và Cao Thái K mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND khu vực 3 - Hà Tĩnh;
  • - Công an tỉnh Hà Tĩnh; TTG CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - THAPT, Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Sỹ Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HSST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về cướp tài sản

  • Số bản án: 39/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Cao Thái S và Cao Thái Kh phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger