Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 39/2025/HSST

Ngày: 24-5-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thy Tuyết

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    • Ông Nguyễn Văn Đời.

    • Ông Nguyễn Kim Thành

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Phương Dung- Là thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Ông Thái Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2025, tại Trường Tiểu học Hai Bà Trưng, quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST- HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Đinh Trí D;

Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1984 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi thường trú: Tổ 23 phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Chổ ở hiện nay: Tổ 50 phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn T (Chết) và bà Phạm Thị T; Bị cáo có vợ tên Trương Thị X, và có bốn con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Sơn Trà, Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Trí D: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1993, Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia- Chi nhánh Đà Nẵng. Địa chỉ trụ sở: Số 141 đường D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Nguyễn S, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Thôn H, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

  • + Ông Lê Quốc H, sinh năm: 1985. Nơi cư trú: Số 15 đường M, Tổ 03, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

  • + Ông Phạm Văn P, sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Số 38 đường M, Tổ 4 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

  • + Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1954. Nơi cư trú: K307/12 đường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

  • + Ông Đinh Sỹ H, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Tổ 23, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1966. Nơi cư trú: Tổ 31, phường N, quận S thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10h00 ngày 17/10/2024, Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận Sơn Trà phối hợp cùng Công an phường Nại Hiên Đông tuần tra trên địa bàn thì phát hiện có các đối tượng có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, gồm:

  1. Nguyễn S đi cùng với Phạm Văn P và thu giữ trên người của Nguyễn S có 02 (hai) gói ni lông kích thước khoảng (5x8)cm, bên trong chứa thảo mộc khô.

  2. Lê Quốc H và thu giữ trên người của Hưng 01 (một) gói ni lông kích thước khoảng (5x8)cm bên trong chứa thảo mộc khô.

Các đối tượng khai nhận số thảo mộc khô trên là mua của Đinh Trí D với giá 50.000 đồng/1 gói.

Đến khoảng 11h00 cùng ngày, Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận Sơn Trà phối hợp cùng Công an phường Nại Hiên Đông tiến hành kiểm tra quán nhậu A. Dũng, địa chỉ lô D5-8 Bùi Dương Lịch, tổ 50 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP.Đà Nẵng thì phát hiện dưới nền nhà bếp có 01 (một) hộp thiếc, bên trong chứa 07 gói ni lông kích thước khoảng (5x8)cm, bên trong các túi có chứa thảo mộc khô, một mảnh giấy quấn và số tiền 150.000 đồng. Bị cáo Đinh Trí D khai nhận các gói ni lông chứa thảo mộc khô là thuốc lá Tobaco, bị cáo mua về nhằm mục đích sử dụng và bán lại. Lực lượng công an đã tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định pháp luật.

Tang vật thu giữ:

  • - 02 gói ni lông kích thước khoảng (5x8)cm bên trong chứa thảo mộc khô và 01 tờ giấy màu trắng thu giữ của Nguyễn S, niêm phong ký hiệu S.

  • - 01 gói ni lông kích thước khoảng (5x8)cm bên trong chứa thảo mộc khô và 01 tờ giấy màu trắng thu giữ của Lê Quốc H, niêm phong ký hiệu H.

  • - 07 gói ni lông kích thước khoảng (5x8)cm, bên trong các túi chứa thảo mộc khô và 01 tờ giấy màu trắng thu giữ của bị cáo, niêm phong ký hiệu D.

  • - 150.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành, thu giữ của bị cáo. Bị cáo trình bày đây là số tiền bán thảo mộc khô có chứa ma tuý mà có.

  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển kiểm soát 43S7-9309, số khung: 12399, số máy: 12309 thu giữ của Lê Quốc H.

  • - 01 xe mô tô hiệu Lyberty biển kiểm soát 43E1-17609, số khung: 109012, số máy: 501094 thu giữ của Nguyễn S.

Kết quả xét nghiệm ma tuý trong cơ thể: Nguyễn S, Lê Quốc H, Phạm Văn P, bị cáo đều âm tính với ma tuý.

* Qua điều tra xác định: Vào chiều ngày 16/10/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 43E1.234.72 đến đường Đào Duy Từ, TP.Đà Nẵng (không xác định được địa chỉ cụ thể) gặp một người phụ nữ tên Bảy (không rõ nhân thân lai lịch) mua 12 gói ni lông chứa thảo mộc khô với số tiền 480.000đồng. Sau khi mua được số thuốc lá dạng thảo mộc khô như trên, bị cáo đem về cất giấu tại quán nhậu A. Dũng, địa chỉ lô D5-8 Bùi Dương Lịch, tổ 50 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà để sử dụng và bán lại cho người khác. Theo đó, trong ngày 17.10.2024, bị cáo đã 02 lần bán thảo mộc khô cho người khác như sau:

Lần thứ nhất: Vào sáng ngày 17/10/2024, bị cáo đi công việc nên dặn bà Nguyễn Thị C là người làm của quán A.Dũng ở nhà bán giúp, có người đến mua thì bán với giá 50.000 đồng/1 gói. Khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Văn P qua nhà một người bạn tại đường Mân Quang 4, phường Thọ Quang thì gặp Nguyễn S, lúc này, P nảy sinh ý định sử dụng thảo mộc khô (do trước đây P được một người bạn ngoài xã hội (không rõ nhân thân lai lịch) giới thiệu), tuy nhiên không có tiền nên P hỏi mượn S 50.000 đồng thì S đồng ý. S biết mục đích P mượn tiền để mua thảo mộc khô nên S nói sẽ đi cùng để S mua cho Sáng 01 gói thảo mộc khô về sử dụng. Sau đó, P chở S bằng xe mô tô hiệu Lyberty, biển kiểm soát 43E1-17609 đến quán nhậu A Dũng để mua 02 gói thảo mộc khô để về sử dụng. Khi đến nơi, P ở ngoài chờ, còn S đi vào trong và hỏi mua 02 gói thảo mộc khô nên bà C đã bán giúp bị cáo 02 gói ni lông chứa thảo mộc khô với giá 50.000 đồng/1 gói. Sau khi mua được số thảo mộc khô, S và P cất trong người chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện như trên.

Lần thứ 2: Vào khoảng 10 giờ ngày 17/10/2024, Lê Quốc H sử dụng xe mô tô hiệu Yamaha biển kiểm soát 43S7-9309 đến quán nhậu A Dũng để mua 01 gói ni lông chứa thảo mộc khô, lúc này bị cáo đã bán cho H 01 gói ni lông chứa thảo mộc khô với giá 50.000 đồng/1 gói. Sau khi mua được số thảo mộc khô, H cất trong người chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện như trên.

Ngoài ra, bị cáo đã lấy 02 gói để sử dụng cho bản thân. Số thảo mộc khô còn lại bị cáo chưa kịp bán bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ niêm phong theo quy định pháp luật.

Tại Kết luận giám định số: 2442 ngày 05/11/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại TP.Đà Nẵng kết luận:

Mẫu thảo mộc khô màu nâu dạng sợi nhỏ được niêm phong ký hiệu D, S, H gửi đi giám định đều có chất ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA; khối lượng cụ thể từng mẫu như sau:

  • Mẫu ký hiệu D có khối lượng: 23,31 gam; mẫu ký hiệu S có khối lượng: 6,40 gam; mẫu ký hiệu H có khối lượng: 3,36 gam.

Tại bản cáo trạng số: 32/CT- VKS- ST ngày 26/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đinh Trí D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố các bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đinh Trí D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS xử phạt Đinh Trí D từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn trả theo Kết luận giám định số 2442/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Đà Nẵng.

  • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 150.000đồng thu giữ của bị cáo do mua bán trái phép chất ma tuý mà có.

  • - Đối với xe mô tô hiệu Yamaha biển kiểm soát 43S7-9309 là do ông Dương Quang T đứng tên chủ sở hữu, sau đó ông T đã bán chiếc xe mô tô trên cho Lê Quốc H (vì thời gian đã lâu nên không nhớ thời gian cụ thể). Xe mô tô hiệu Lyberty biển kiểm soát 43E1-17609 là do anh Nguyễn Bạch L đứng tên chủ sở hữu. Vào khoảng tháng 3/2024, anh L bán chiếc mô tô này cho Nguyễn S. Các xe mô tô nói trên do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà đã trả lại cho Lê Quốc H và Nguyễn S theo Quyết định xử lý vật chứng là phù hợp.

Bị cáo Đinh Trí D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Đinh Trí D thống nhất với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên đề nghị hội đồng xét xử cần xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo khi lượng hình. Bị cáo do thiếu hiểu biết pháp luật, không biết rõ thành phần trong gói thảo mộc khô là chất được liệt kê trong danh mục ma túy và không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Chỉ sau khi được cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và luật sư giải thích, bị cáo mới hiểu rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với quy mô rất nhỏ, tổng giá trị thấp, không thể hiện động cơ trục lợi lớn. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang chăm sóc mẹ già bệnh nặng, không còn khả năng lao động. Bị cáo có 4 con nhỏ đang độ tuổi đi học, con nhỏ nhất sinh năm 2024, con lớn nhất sinh năm 2008, gia cảnh hết sức khó khăn, vợ bị cáo thu nhập thấp. Bị cáo là bộ đội nhập ngũ, quân nhân dự bị, mang quân hàm Trung sĩ, hiện đang công tác tại Ban Chỉ huy Quân sự phường Mân Thái, từng giữ nhiệm vụ quản lý đơn vị dự bị động viên từ quý 1/2022 đến quý III/2024. Bị cáo tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, thường xuyên hiến máu nhân đạo nên Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét, căn nhắc mức hình phạt đối với bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của nhà nước ta đối với người lần đầu phạm tội, biết ăn năn hối lỗi.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

- Bị cáo Đinh Trí D: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Vào ngày 17/10/2024, tại quán A. Dũng, địa chỉ lô D5-8 Bùi Dương Lịch, tổ 50 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP.Đà Nẵng, bị cáo đã 02 lần có hành vi bán 03 gói thảo mộc khô có chứa chất ma tuý loại MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA với tổng trọng lượng 9,76 gam cho Nguyễn S, Lê Quốc H với số tiền 150.000đồng. Bên cạnh đó, bị cáo còn cất giấu 07 gói thảo mộc khô có chứa chất ma tuý loại MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA với tổng trọng lượng 23,31 gam nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho người khác thì bị phát hiện bắt giữ. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

  3. Xét tính chất vụ án thì thấy: Bị cáo mua thảo mộc khô có chứa chất ma tuý loại MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA để bán nhiều lần cho Nguyễn S, Lê Quốc H sử dụng và được hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người khỏe mạnh, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng không lo làm ăn lương thiện mà lại thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để bán lại kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, thực hiện với lỗi cố ý không những xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, gây bất ổn trong nhân dân trên địa bàn Tp Đà Nẵng nói chung và địa bàn quận Sơn Trà nói riêng. Do đó đối với bị cáo cần phải lên cho một mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Song xét tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian tham gia dự bị động viên tại phường Mân Thái và nhiều lần tham gia hiến máu nhân đạo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

  4. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).

  5. Về xử lý vật chứng:

    • - Đối với phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả theo Kết luận giám định số 2442/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Đà Nẵng. Đây là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không sử dụng được nên HĐXX tịch thu, tiêu hủy.

    • - Đối với số tiền 150.000đồng thu giữ của bị cáo do mua bán trái phép chất ma tuý mà có nên HĐXX tịch thu, sung ngân sách nhà nước.

    • Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2025.

  6. Đối với hành vi mua thảo mộc khô có chứa ma tuý loại MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA về để sử dụng của Nguyễn Sáng, Phạm Văn P, Lê Quốc H chưa đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Công an quận Sơn Trà đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

    • Đối với đối tượng tên Bảy đã bán ma tuý cho bị cáo, Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà đã tiến hành xác minh, tuy nhiên hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch. Bị cáo khai không nhớ địa chỉ giao dịch mua ma tuý của đối tượng tên Bảy nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý là có cơ sở.

    • Đối với bà Nguyễn Thị C đã bán thảo mộc khô giúp bị cáo, bà C không biết bên trong các gói thảo mộc khô là gì, nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý là có căn cứ.

    • Đối với xe mô tô mang biển kiểm soát 43E1.234.72 của anh Đinh Sỹ H (em trai của bị cáo) cho bị cáo mượn để đi công việc, anh H không biết bị cáo mượn xe để đi mua thảo mộc khô có chứa ma tuý về bán kiếm lời, nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý là có căn cứ.

    • Đối với xe mô tô hiệu Yamaha biển kiểm soát 43S7-9309 là do ông Dương Quang T đứng tên chủ sở hữu, sau đó ông T đã bán chiếc xe mô tô trên cho Lê Quốc H (vì thời gian đã lâu nên không nhớ thời gian cụ thể). Xe mô tô hiệu Lyberty biển kiểm soát 43E1-17609 là do anh Nguyễn Bạch L đứng tên chủ sở hữu. Vào khoảng tháng 3/2024, anh L bán chiếc mô tô này cho Nguyễn S. Các xe mô tô nói trên do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà đã trả lại cho Lê Quốc H và Nguyễn S theo Quyết định xử lý vật chứng là phù hợp

  7. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ nên chấp nhận.

  8. Án phí HSST bị cáo phải chịu 200.000đồng.

  9. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Trí D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

    • - Căn cứ Điểm b Khoản 2, 5 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    • Xử phạt: Đinh Trí D 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 13/11/2024.

    • Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Đinh Trí D 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

    • - Tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả theo Kết luận giám định số 2442/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Đà Nẵng.

    • - Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 150.000đồng thu giữ của bị cáo do mua bán trái phép chất ma tuý mà có.

    • Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2025.

  3. Án phí HSST: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Án phí HSST bị cáo Đinh Trí D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;

  • - VKSND q. Sơn Trà;

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;

  • - Chi cục THADS q. Sơn Trà;

  • - Công an thành phố Đà Nẵng;

  • - Phân trại tạm giam khu vực Sơn Trà,

  • Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Tô Thị Thy Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HSST ngày 24/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 39/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đinh Trí D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger