Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 39/2025/HSST

Ngày 17 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Long;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyền và bà Trần Thị Hải Yến.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với:

- Bị cáo: Hoàng Anh T, sinh năm 1969 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Làm may; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Cao K (đã chết) và bà Lê Thị H; có vợ là Nguyễn Thị T1 và 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

- Bị hại:

  1. Công ty L5; địa chỉ trụ sở chính: 31-37 Boulevard de Montmorency F-70516, Paris, Pháp
  2. Công ty T5; địa chỉ trụ sở chính: 650 M, N, N, Hoa Kỳ.

Người đại diện theo uỷ quyền của Công ty L5 và Công ty T5 tại Việt Nam: Công ty L6; địa chỉ: P, tầng D, tháp B tòa nhà C, số B L, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh H1 - chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thị Ngọc D; địa chỉ: P, tầng D, tháp B tòa nhà C, số B L, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  1. Công ty TNHH M; địa chỉ: Số A A, phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Đ - chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh K1 - chức vụ: Phó Tổng giám đốc; địa chỉ: A Chung cư C (S), khu phố F, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hà Đ1; địa chỉ: Số A A, phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1945 và bà Đỗ Thị B, sinh năm 1948; cùng nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông N: Bà Đỗ Thị B, sinh năm 1948; nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L; bà Nguyễn Thị T2; bà Nguyễn Thị T3; ông Dương Văn H2; chị Lê Thị B1; ông Đỗ Văn P; chị Nguyễn Thị Thu X (đều vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Anh T - sinh năm 1969, trú tại thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam là chủ xưởng may, có địa chỉ tại thôn D, xã N, huyện L, được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận hộ kinh doanh cá thể số 06D001400, đăng ký lần đầu ngày 08/4/2009. Quá trình sản xuất kinh doanh Hoàng Anh T đã nhận gia công hàng hóa may mặc cho các tổ chức và cá nhân.

Ngày 07/12/2024, Tổ công tác của Công an huyện L phối hợp với Đội Quản lý thị trường số B2 thuộc Cục Quản lý thị trường tỉnh H tiến hành kiểm tra xưởng may của Hoàng Anh T phát hiện tại xưởng đang sản xuất các sản phẩm áo sơ mi gắn mác nhãn hiệu Pier Caidim, L1, R. Quá trình làm việc chủ hộ kinh doanh Hoàng Anh T không xuất trình được hóa đơn, chứng từ liên quan đến số hàng hóa tại xưởng, không xuất trình được hợp đồng gia công sản xuất, hợp đồng ủy quyền hoặc cho phép sử dụng nhãn hiệu của các công ty trên. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ và niêm phong số hàng hóa có dấu hiệu vi phạm gồm: 70 áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Pier Caidim (đã đóng gói); 313 áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Pier Caidim (đã đóng gói); 222 áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Pier Caidim (chưa đóng gói); 26 áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Lacostes (đã đóng gói); 48 áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Lacostes (đã đóng gói); 128 bán thành phẩm của áo sơ mi nhãn hiệu Lacostes; 828 áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Ralph Lauren (đã đóng gói); 01 (một) bọc vải vụn, không rõ hình thù, nhiều màu sắc, nhiều kích thước khác nhau; 12 (mười hai) khuôn cổ áo bằng bìa cát tông; 1.200 thẻ bài Lacostes bằng giấy; 2.200 mác Pier Caidim bằng giấy; 3.200 thẻ bài Pier Caidim bằng giấy và 1,6 kg mác Lacostes bằng giấy; 24 chiếc máy may, 02 chiếc máy thu khuy, 02 chiếc máy dập cúc. Ngoài ra còn thu giữ tại chỗ ở của Hoàng Anh T 02 chiếc máy cắt vải, 01 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 06D001400. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L tiến hành khám xét chỗ ở của Hoàng Anh T tại thôn C xã N đã thu giữ 01 (một) quyển sổ kích thước (25x17,5)cm, tại các trang số 1, 2, 3 có chữ và số tự nhiên; khám xét xưởng may của T tại thôn D xã N nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Anh T khai nhận: Sáng ngày 09/11/2024, khi Hoàng Anh T đang ở nhà tại thôn C xã N thì có một người đàn ông đi xe máy (không nhớ biển số xe) chở theo 02 bao tải hàng đến tự giới thiệu tên là T4 nhà ở thành phố P, tỉnh Hà Nam đặt T may gia công 828 chiếc áo sơ mi ngắn tay. T4 là người cung cấp đầy đủ các nguyên liệu để may thành phẩm một chiếc áo như vải, tem, nhãn, mác, thêu chữ và biểu tượng của nhãn hiệu Ralph Lauren, T có trách nhiệm may thành phẩm chiếc áo gắn đầy đủ tem mác và đóng gói theo mẫu với giá 40.000 đồng/áo, ngày trả hàng 17/12/2024. Sau khi thỏa thuận, T đã nhận kiểm đếm hàng theo từng loại, từng buộc rồi mang xuống xưởng tại thôn D, xã N, huyện L để may gia công.

Chiều tối ngày 09/11/2024, khi T đang ở xưởng may tại thôn D xã N thì có một người phụ nữ đi xe ô tô (không nhớ biển số xe) đến tự giới thiệu tên là Q nhà ở Hà Nội đến đặt T may 500 áo sơ mi dài tay có gắn tem, nhãn hiệu Pier Caidim; 70 áo sơ mi ngắn tay có gắn tem, nhãn hiệu Pier Caidim; 150 áo sơ mi dài tay và 50 áo sơ mi ngắn tay có gắn tem, nhãn hiệu Lacostes theo các mẫu áo Q mang đến. Sau khi thỏa thuận chất lượng vải, kiểu dáng, mẫu mã và số lượng với nhau xong thì T tính đồng giá là 85.000 đồng/01 áo, ngày trả hàng 20/12/2024. Do phải tự chuẩn bị nguyên vật liệu để sản xuất nên T yêu cầu Q ứng trước số tiền là 6.500.000 đồng. Sau khi nhận đơn hàng thì T lấy các mẫu áo Q đưa dựng các chi tiết của một chiếc áo bằng bìa catton cứng làm thành bộ khuân hoàn chỉnh để cắt may một chiếc áo theo từng loại và đến chợ N1 thuộc huyện G, thành phố Hà Nội mua vải của các tiểu thương không quen biết với giá 40.000 đồng/mét rồi giao vải, khuân mẫu áo cho ông Dương Văn H2 (sinh năm 1971, trú tại thôn B M, thị trấn V, huyện L), là công nhân làm thuê cho T cắt thành các chi tiết của chiếc áo. Sau khi cắt vải, T mang phần vải cần thêu chữ, biểu tượng của nhãn hiệu đến chợ N1 thuê một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) thêu các chữ “Pier Caidim”, “Lacostes” và biểu tượng con cá sấu màu xanh đúng vị trí, hình dáng theo mẫu áo Q đưa với giá 800 đồng/01 sản phẩm thêu. Đồng thời đến khu vực cầu K ở thành phố N, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không quen biết các loại tem, nhãn, mác, thẻ bài (là các chi tiết đính vào áo) mang nhãn hiệu Pier Caidim, L1 với giá 100.000 đồng/01kg. Sau đó T mang tất cả vải, phụ kiện đã chuẩn bị nêu trên về xưởng may giao cho các công nhân mỗi người thực hiện một phần việc để hoàn thành một sản phẩm.

Các công nhân tham gia sản xuất hai đơn hàng trên gồm: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1956, trú tại thôn B xã N, huyện L; chị Nguyễn Thị Thu X, sinh năm 1995, trú tại thôn F xã N, bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1972, trú tại thôn C xã N; chị Lê Thị B1, sinh năm 1990, trú tại thôn A xã M; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963, trú tại thôn D xã N.

Quá trình thỏa thuận nhận đơn đặt hàng gia công của T4 và Q, T biết các mẫu hàng này gần giống sản phẩm áo sơ mi của các nhãn hiệu Pierre Cardin, L2 và Ralph L3 đã được đăng ký nhãn hiệu. Mặc dù cơ sở may của T không được các nhãn hàng này ủy quyền hay ký kết hợp đồng gia công sản xuất nhưng vì muốn kiếm việc làm cho công nhân và thêm thu nhập cho gia đình nên T đã nhận làm. Đến thời điểm bị phát hiện T đã may xong đơn hàng của T4, đang chờ T4 đến nhận và trả tiền công như thỏa thuận. Đối với đơn hàng của Q thì mới hoàn thiện được 313 cái áo sơ mi dài tay và 70 cái áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Pier Caidim, 26 cái áo sơ mi dài tay và 48 cái áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Lacostes.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu Viện Khoa học sở hữu trí tuệ - Bộ K3; ra văn bản Yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L tiến hành giám định, định giá các sản phẩm hàng hóa thu giữ có dấu hiệu vi phạm nhãn hiệu nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định sở hữu công nghiệp số NH816-24TC.TP/KLGĐ ngày 16/12/2024 của Viện Khoa học sở hữu trí tuệ - Bộ K3 và Công nghệ, kết luận:

  • “- Sản phẩm áo sơ mi gắn dấu hiệu “Pier Caidim” - như thể hiện tại Mẫu 1 - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo sơ mi thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 325578 của Công ty TNHH M (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
  • - Sản phẩm áo sơ mi gắn dấu hiệu “Pierree Caidim” - như thể hiện tại Mẫu 2 - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo sơ mi thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 325578 của Công ty TNHH M (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
  • - Sản phẩm áo sơ mi gắn dấu hiệu P, hình - như thể hiện tại M - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo sơ mi thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 325341 của Công ty TNHH M (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
  • - Sản phẩm áo sơ mi gắn dấu hiệu “Piere Caidim” - như thể hiện tại M - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo sơ mi thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 325578 của Công ty TNHH M (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
  • - Sản phẩm áo sơ mi gắn dấu hiệu “RALPH LAUREN” - như thể hiện tại Mẫu 5 - là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo sơ mi thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 80407 của The P, L4. (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
  • - Sản phẩm áo sơ mi gắn dấu hiệu “LACOSTES” - như thể hiện tại Mẫu 6 - là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 437000 của L2 (theo Điều 213.2 Luật SHTT)”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-ĐGTS ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận:

  • “- Giá trị của 3.200 cái thẻ bài Pier Caidim được mô tả như trên là 640.000 đồng;
  • - Giá trị của 2.200 cái mác Pier Caidim được mô tả như trên là 286.000 đồng;
  • - Giá trị của 1.200 cái thẻ bài Lacostes được mô tả như trên là 240.000 đồng;
  • - Giá trị của 1.6 kg mác Lacostes được mô tả như trên là 416.000 đồng;
  • - Giá trị của 313 cái áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Pier Caidim (đã đóng gói) được mô tả như trên là 109.550.000 đồng;
  • - Giá trị của 70 cái áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Pier Caidim (đã đóng gói) được mô tả như trên là 18.900.000 đồng;
  • - Giá trị của 222 cái áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Pier Caidim (chưa đóng gói) được mô tả như trên là 73.260.000 đồng;
  • - Giá trị của 828 cái áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Ralph Lauren được mô tả như trên là 124.000.000 đồng;
  • - Giá trị của 26 cái áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Lacostes (đã đóng gói) được mô tả như trên là 14.300.000 đồng;
  • - Giá trị của 48 cái áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Lacostes (đã đóng gói) được mô tả như trên là 21.600.000 đồng;
  • - Giá trị của 128 bán thành phẩm của áo sơ mi mang nhãn hiệu Lacostes (đang may dở) được mô tả như trên là 11.520.000 đồng;”.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định:

Dấu hiệu “Lacoste” là nhãn hiệu hàng hóa của Công ty L5, trụ sở chính: 31-37 Boulevard de M1, Pháp và dấu hiệu “RALPH LAUREN” là nhãn hiệu hàng hóa của Công ty T5, trụ sở chính: 650 M, N, N, Hoa Kỳ. Cả hai nhãn hiệu này được Cục sở hữu trí tuệ - Bộ K3 và Công nghệ cấp Giấy xác nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam.

Công ty L5 và Công ty T5 đều ủy quyền cho Công ty L6 (địa chỉ: số B L, phường N, quận B, thành phố Hà Nội) là đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam theo Giấy ủy quyền ngày 28/8/2023 và Giấy ủy quyền ngày 21/12/2022.

Đối với dấu hiệu “Pierre Cardin” là nhãn hiệu hàng hóa của Công ty TNHH M, trụ sở chính: số A A, phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh đã được cấp “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 325578” theo Quyết định số 62867/QĐ-SHTT ngày 31/7/2019 của Cục sở hữu trí tuệ Bộ K3 và Công nghệ.

* Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện Công ty L5, Công ty T5 tại Việt Nam và bị cáo Hoàng Anh T đã thỏa thuận, thống nhất số tiền bị cáo T phải bồi thường cho mỗi Công ty 15.000.000 đồng là tiền chi phí thuê Công ty L6 tham gia tố tụng vụ án này. Ngày 24/02/2025, bị cáo Hoàng Anh T đã bồi thường xong cho các công ty.

Ông Trần Minh K1 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH M có đơn trình bày thiệt hại của công ty là 1.628.000 đồng/cái x 605 áo sơ mi (T sản xuất) = 984.940.000 đồng nên yêu cầu Hoàng Anh T phải bồi thường cho công ty số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Bị cáo Hoàng Anh T không nhất trí nên chưa bồi thường.

Đối với người nam giới tên T4 và người phụ nữ tên Q đặt may các sản phẩm áo sơ mi giả mạo các nhãn hàng nêu trên; người thêu chữ, biểu tượng sản phẩm; người bán các loại tem, nhãn, mác, thẻ bài như Hoàng Anh T đã khai, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, không nhớ biển số xe, không có số điện thoại liên lạc và không có thông tin cá nhân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

- Quá trình điều tra xác định toàn bộ số máy cắt vải, máy may, máy thu khuy, máy dập cúc đã thu giữ là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn N (sinh năm 1945) và bà Đỗ Thị B (sinh năm 1948) đều trú tại thôn D xã N (là bố mẹ vợ của T) đã cho Hoàng Anh T mượn để sản xuất nhưng không biết việc T nhận sản xuất các sản phẩm vi phạm pháp luật nên ngày 18/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Đỗ Thị B.

- Đối với toàn bộ sản phẩm áo sơ mi thu giữ; 01 (một) bọc vải vụn; 12 (mười hai) khuôn cổ áo và toàn bộ thẻ bài, mác Lacostes, thẻ bài, mác P1 Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSHN - P1 ngày 15/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố Hoàng Anh T về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, thừa nhận việc bị truy tố về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là đúng người, đúng tội, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Hoàng Anh T phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.

Áp dụng khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Anh T hình phạt chính là phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589, 592 Bộ luật dân sự, Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ, chấp nhận sự thoả thuận của bị cáo T và đại diện Công ty L5, Công ty T5 tại Việt Nam về số tiền bị cáo phải bồi thường cho mỗi Công ty là 15.000.000 đồng (bị cáo Hoàng Anh T đã bồi thường xong); chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo T bồi thường cho Công ty TNHH M số tiền 20.000.000 đồng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số hàng hoá vi phạm nhãn hiệu và các nguyên vật liệu bị thu giữ.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và người bị hại là Công ty TNHH M đã có quan điểm về việc giải quyết bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Với mục đích lợi ích về kinh tế, tháng 11/2024 Hoàng Anh T đã nhận của những người không quen biết đặt may gia công 828 chiếc áo giả nhãn hiệu Ralph Lauren với giá 40.000 đồng/chiếc; đã nhận sản xuất 500 áo sơ mi dài tay có gắn tem nhãn hiệu Pier Caidim, 70 áo sơ mi ngắn tay có gắn tem nhãn hiệu Pier Caidim, 150 áo sơ mi dài tay và 50 áo sơ mi ngắn tay có gắn tem nhãn hiệu Lacostes với giá 85.000 đồng/chiếc. Sau khi nhận đơn hàng, Hoàng Anh T đã đi tìm mua vải, các loại tem, nhãn, mác, thẻ bài (là các chi tiết đính vào áo) mang nhãn hiệu Pier Caidim, L1; thuê người thêu chữ, biểu tượng giả mạo nhãn hiệu Pier Caidim, L1 và giao cho công nhân sản xuất. Tính đến ngày 07/12/2024, T đã may xong 1.194 chiếc áo sơ mi thành phẩm và 128 chiếc áo sơ mi bán thành phẩm giả mạo nhãn hiệu áo sơ mi của Công ty TNHH M, Công ty L5 và Công ty T5 đang được bảo hộ tại Việt Nam với tổng giá trị hàng hóa vi phạm là 374.912.000 đồng (Ba trăm bẩy mươi bốn triệu chín trăm mười hai nghìn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Anh T đã cấu thành tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Hoàng Anh T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Anh T có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Anh T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường một phần thiệt hại và được đại diện bị hại Công ty L5, Công ty T5 đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố là ông Hoàng Công K2 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp của Công ty L5, Công ty T5 và Công ty TNHH M. Bị cáo nhận thức được tác hại và hậu quả gây ra nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi cá nhân nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, những sản phẩm do bị cáo sản xuất chưa được đưa ra thị trường tiêu thụ và khi bị phát hiện thu giữ toàn bộ nên chưa gây hậu quả thiệt hại cho chủ sở hữu cũng như người tiêu dùng, bị cáo đã phải ứng tiền ra mua nguyên vật liệu và tiền trả cho nhân công nhưng chưa thu hồi được. Khách thể bị cáo xâm phạm là trật tự quản lý kinh tế thuộc loại tội ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tiền là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền và để tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế tư nhân tại địa phương nên không áp dụng hình phạt bổ sung khác theo quy định tại Khoản 3 Điều 226 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Bị cáo Hoàng Anh T và đại diện theo uỷ quyền của Công ty L5 và Công ty T5 tại Việt Nam đã thống nhất bị cáo T phải bồi thường cho mỗi công ty là 15.000.000 đồng. Bị cáo T đã bồi thường xong, đại diện Công ty L5 và Công ty T5 tại Việt Nam không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo T.

- Đối với Công ty TNHH M: Tại văn bản ý kiến pháp lý đề ngày 13/6/2025 của Công ty TNHH M xác định hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của bị cáo T đã gây thiệt hại cho công ty K4 thu nhập, lợi nhuận là % trên tổng giá trị hàng là 984.940.000 đồng. Công ty yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là 150.000.000 đồng để khắc phục mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ để ấn định mức bồi thường đối với bị cáo T.

Xét các khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty TNHH M thấy: Bị cáo T nhận may 605 áo sơ mi nhãn hiệu Pier Caidim nhưng những sản phẩm này chưa được đưa ra thị trường để tiêu thụ nên chưa phát sinh thiệt hại về vật chất đối với Công ty TNHH M. Đồng thời, Công ty TNHH M cũng không chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của bị cáo T gây thiệt hại về vật chất, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại cho mình. Do vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 204, 205 Luật sở hữu trí tuệ thì không có cơ sở để xác định được mức thiệt hại của hành vi phạm tội đối với Công ty TNHH M. Tuy nhiên, tại phiên toà bị cáo Hoàng Anh T tự nguyện bồi thường cho Công ty TNHH M 20.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T.

[7] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số hàng hoá vi phạm nhãn hiệu và các nguyên vật liệu bị thu giữ không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Các vấn đề khác: Đối với người nam giới tên T4 và người phụ nữ tên Q đặt may các sản phẩm áo sơ mi giả mạo các nhãn hàng nêu trên; người thêu chữ, biểu tượng sản phẩm; người bán các loại tem, nhãn, mác, thẻ bài như Hoàng Anh T đã khai, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, không nhớ biển số xe, không có số điện thoại liên lạc và không có thông tin cá nhân nên Cơ quan CSĐT Công an huyện L không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 135; Điều 292; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 589, 592 Bộ luật Dân sự; Điều 204, 205 Luật sở hữu trí tuệ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh T phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
  2. Xử phạt: Hoàng Anh T 70.000.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Hoàng Anh T bồi thường cho Công ty TNHH M số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bị cáo Hoàng Anh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành.

  1. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 70 áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Pier Caidim còn mới đã đóng gói; 313 áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Pier Caidim còn mới đã đóng gói; 222 áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Pier Caidim còn mới chưa đóng gói; 26 áo sơ mi dài tay mang nhãn hiệu Lacostes còn mới đã đóng gói; 48 áo sơ mi ngắn tay mang nhãn hiệu Lacostes còn mới đã đóng gói; 128 bán thành phẩm của áo sơ mi nhãn hiệu Lacostes đang may đo chưa hoàn thiện; 828 áo sơ my ngắn tay mang nhãn hiệu Ralph Lauren còn mới đã đóng gói; 01 bọc vải vụn không rõ hình thù, nhiều màu sắc, nhiều kích thước khác nhau đã cũ; 12 khuôn cổ áo bằng bìa cát tông đã cũ, 1200 thẻ bài Lacostes bằng giấy còn mới; 2200 Mác Pier Caidim bằng giấy; 3200 Thẻ bài Pier Caidim bằng giấy còn mới; 1,6 kg Mác Lacostes bằng giấy còn mới.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 16/6/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam).

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Anh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng THAHS và HTTP Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng NVHS Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Hùng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

  • Số bản án: 39/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Với mục đích lợi ích về kinh tế, tháng 11/2024 Hoàng Anh Tuấn đã nhận của những người không quen biết đặt may gia công 828 chiếc áo giả nhãn hiệu Ralph Lauren với giá 40.000 đồng/chiếc; đã nhận sản xuất 500 áo sơ mi dài tay có gắn tem nhãn hiệu Pier Caidim, 70 áo sơ mi ngắn tay có gắn tem nhãn hiệu Pier Caidim, 150 áo sơ mi dài tay và 50 áo sơ mi ngắn tay có gắn tem nhãn hiệu Lacostes với giá 85.000 đồng/chiếc. Sau khi nhận đơn hàng, Hoàng Anh Tuấn đã đi tìm mua vải, các loại tem, nhãn, mác, thẻ bài (là các chi tiết đính vào áo) mang nhãn hiệu Pier Caidim, Lacostes; thuê người thêu chữ, biểu tượng giả mạo nhãn hiệu Pier Caidim, Lacostes và giao cho công nhân sản xuất. Tính đến ngày 07/12/2024, Tuấn đã may xong 1.194 chiếc áo sơ mi thành phẩm và 128 chiếc áo sơ mi bán thành phẩm giả mạo nhãn hiệu áo sơ mi của Công ty TNHH may thêu giày An Phước, Công ty Lacoste và Công ty The Polo/Lauren đang được bảo hộ tại Việt Nam với tổng giá trị hàng hóa vi phạm là 374.912.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger