Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 39/2025/HSPT

Ngày: 30 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền và ông Trần Khắc Hoàng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLPT- HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Lưu Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST, ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

* Bị cáo có kháng cáo: Lưu Văn N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 10/10/1977 tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký HKTT: C, Khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; con ông: Lưu Xuân N1 và bà Nguyễn Thị T; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; vợ: Nguyễn Thị H; sinh năm: 1980; có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 16/02/2025 đến nay, tại khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án này còn có đại diện gia đình người bị hại nhưng không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 24/01/2025, Lưu Văn N (có giấy phép lái xe ô tô số [...] hạng B2 do sở Giao thông vận tải thành phố H cấp, có giá trị đến ngày 14/9/2026) điều khiển xe ô tô con biển kiểm soát 61A-593.17 chở các thành viên trong gia đình mình (gồm 02 vợ chồng và 02 người con) cùng với vợ chồng và 02 người con của anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1985 (là bạn của N) từ tỉnh Bình Dương về quê đón Tết năm 2025. Trong quá trình di chuyển, Lưu Văn N và anh Hoàng Văn T1 thay nhau điều khiển xe ô tô. Đến khoảng 03 giờ ngày 26/01/2025, khi anh Hoàng Văn T1 điều khiển xe ô tô về đến thành phố H (theo hướng từ N ra B), do anh T1 buồn ngủ nên Lưu Văn N đã đổi lái, thay anh T1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 61A-593.17 và tiếp tục hành trình theo hướng ra B. Lúc này, anh T1 đổi sang ngồi ở ghế trước, bên phụ, còn những người khác vẫn ngồi ở 2 hàng ghế phía sau.

Đến khoảng gần 04 giờ ngày 26/01/2025, khi Lưu Văn N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 61A-593.17 di chuyển trên đường Q hướng từ N ra B về đến địa phận thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, đi trên làn đường dành cho xe cơ giới sát với dải phân cách cứng, với tốc độ khoảng 50km/h. Tại thời điểm này, trời tối, khô ráo, đoạn đường không có hệ thống đèn chiếu sáng, sử dụng đèn chiếu sáng xe ô tô, không có phương tiện nào di chuyển cùng chiều, phía trước; còn ở phần đường ngược lại có một số phương tiện xe ô tô di chuyển ngược chiều sử dụng đèn chiếu sáng. Quá trình điều khiển xe ô tô Lưu Văn N không chú ý quan sát hệ thống biển báo hiệu giao thông bên đường mà chỉ thấy phía trước có đèn tín hiệu nhấp nháy màu vàng, có điểm mở ở dải phân cách cứng nên đã điều khiển xe giảm tốc độ xuống còn khoảng 35km/h và tiếp tục di chuyển thẳng về phía trước.

Cùng lúc này, bà Phạm Thị H1, sinh năm 1949, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh dắt xe đạp, chở theo rau, củ phía sau từ nhà đi qua đường Quốc lộ IA tại điểm mở tại dải phân cách cứng thuộc địa phận thôn H, xã T theo vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường (theo hướng từ trái qua phải so với chiều di chuyển của xe ô tô do Lưu Văn N điều khiển) để đến Chợ G thuộc xã T, huyện T bán. Do thiếu chú ý quan sát nên khi Lưu Văn N điều khiển xe ô tô di chuyển đến gần hết điểm mở dải phân cách, thì mới phát hiện được bà Phạm Thị H1 dắt một chiếc xe đạp, di chuyển từ trái qua phải so với chiều di chuyển của mình, ở vị trí ngay sát bên trái đầu xe ô tô do N điều khiển. Do khoảng cách quá gần không kịp xử lý nên phía bên trái đầu xe ô tô con do N điều khiển đã va chạm vào bên phải xe đạp do bà Phạm Thị H1 dắt làm bà H1 và xe đap bị hất văng, ngã trên mặt đường. Sau khi xảy ra tai nạn thì Lưu Văn N đã điều khiển xe ô tô giảm tốc độ nép vào lề đường bên phải phía trước cách vị trí va chạm khoảng 80 mét thì dừng lại và đậu vào ngõ nhà một người dân. Sau đó, Lưu Văn N và những người đi cùng xuống xe quay lại hiện trường, thấy bà H1 bị thương nên anh Hoàng Văn T1 và vợ của N là chị Nguyễn Thị H đã gọi xe đưa bà H1 đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H, nhưng do bị thương quá nặng nên đến ngày 27/01/2025 thì bà Phạm Thị H1 bị tử vong.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Lưu Văn N lúc 06 giờ 00 phút, ngày 26/01/2025 là 0.000mg/L. Kết quả xét nghiệm ma túy bằng nước tiểu của Lưu Văn N lúc 07 giờ 58 phút ngày 26/01/2025 xác định âm tính với chất ma túy trong cơ thể.

* Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 06h10 ngày 26/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phản ánh:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông được ghi nhận tại Km500+150 đường Q thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường đôi được phân cách bằng dải phân cách cứng ở giữa, mỗi chiều di chuyển được chia thành 03 làn đường, trong đó có 02 làn đường dành cho xe cơ giới được ngăn cách bằng vạch sơn kẻ đường màu trắng dạng đứt quãng, mỗi làn rộng 3,5m và 01 làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m được phân cách bởi vạch sơn kẻ đường nét liền màu trắng. Đoạn đường được rải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn rộng, thông thoáng. Ngoài ra, đây là khu vực giao nhau giữa đường nhánh phía bên trái với đường Quốc lộ 1A theo chiều từ thành phố H đi huyện C, đồng thời tại khu vực này có điểm mở dải phân cách cứng để các phương tiện qua lại.

Trước khu vực xảy ra tai nạn giao thông, lề đường phía bên phải đường Q hướng từ thành phố H đi huyện C có cột biển báo gồm 01 biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (Biển số W.207b), tiếp theo về hướng huyện C có 01 biển báo chỗ quay xe và 01 biển báo chỉ dẫn đường người đi bộ sang ngang. Đồng thời, có vạch sơn kẻ đường cho người đi bộ qua đường (vạch sơn màu trắng).

Các dấu vết của vụ tai nạn giao thông nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới ngoài cùng (làn đường tiếp giáp với dải phân cách cứng) phần đường bên phải đường Q hướng thành phố H đi huyện C.

* Đánh số thứ tự các dấu vết:

  1. Vết cày xước thứ nhất, kích thước (2,8 x 0,01)m;
  2. Vết trượt màu nâu vàng, kích thước: (1,85 x 0,01)m;
  3. Vết cày xước thứ hai, kích thước: (1,17 x 0,01)m
  4. Xe đạp;
  5. Vùng chất bẩn màu nâu đỏ, kích thước (0,27 x 0,2)m;
  6. Vùng mảnh vỡ, kích thước (0,4 x 0,25)m;

* Điểm mốc và mép chuẩn:

  • Lấy chân cột đèn tín hiệu giao thông nằm ở lề đường bên phải đường quốc lộ 1A theo hướng từ thành phố H đi huyện C (trước nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông) làm điểm mốc.
  • Lấy mép đường bên phải đường đường quốc lộ 1A theo hướng từ thành phố H đi huyện C làm mép chuẩn.

* Mô tả hiện trường: Hiện trường được mô tả theo hướng từ thành phố H đi huyện C và theo thứ tự dấu vết được đánh số trên sơ đồ hiện trường, như sau:

Từ điểm mốc đo đến điểm đầu vết cày xước thứ nhất là 25m, vết cày xước thứ nhất được ký hiệu số (1) trên sơ đồ hiện trường. Vết (1) nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất phía bên phải đường quốc lộ 1A theo hướng mô tả. Vết (1) gồm nhiều vết cày xước khác nhau, dạng đứt quãng, có màu trắng đục, kích thước (2,8x0,01)m, chếch chéo từ phải qua trái theo hướng từ thành phố H đi huyện C. Từ điểm đầu vết (1) đo vào mép chuẩn là 7,4m, điểm cuối vết (1) đo vào mép chuẩn là 8,3m (trùng tâm trục bánh sau xe đạp)

Từ điểm đầu vết (1) đo đến điểm đầu vết trượt màu nâu vàng là 1,6m, vết trượt màu nâu vàng ký hiệu số (2) trên sơ đồ hiện trường. Vết (2) nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất phía bên phải đường quốc lộ 1A theo hướng mô tả. Vết (2) có màu nâu vàng, dạng đường thẳng, kích thước (1,85x 0,01)m, chếch chéo từ phải qua trái theo chiều từ thành phố H đi huyện C. Từ điểm đầu vết (2) đo đến mép chuẩn là 8m, điểm cuối vết (2) đo đến mép chuẩn là 8,9m.

Từ điểm đầu vết (2) đo đến đầu vết cày xước thứ hai trên hiện trường là 1m, vết cày xước thứ hai được ký hiệu (3) trên sơ đồ hiện trường. Vết (3) nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất phía bên phải đường quốc lộ 1A theo hướng mô tả. Vết (3) có màu trắng đục, hơi cong, kích thước (1,17x0,01)m, chếch chéo từ phải qua trái theo hướng từ thành phố H đi huyện C. Từ điểm đầu vết (3) đo vào mép chuẩn là 8,6m, điểm cuối vết (3) đo vào mép chuẩn là 9,35m.

Từ điểm đầu vết (3) đo đến tâm trục bánh sau xe đạp trên hiện trường là 0,3m, xe đạp được ký hiệu (4) trên sơ đồ hiện trường. Xe đạp (4) nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất phía bên phải đường quốc lộ 1A theo hướng mô tả. Xe đạp (4) có màu xanh, trên khung xe có ghi chữ “Thống Nhất”, nằm ngã nghiêng sang phải, phía sau xe có một dàn đèo bằng gỗ, bị gãy, đầu xe hướng về dải phân cách cứng, đuôi xe hướng về mép chuẩn, xung quanh khu vực xe đạp (4) có rau nằm rải rác. Từ tâm trục bánh trước xe đạp (4) đo vào mép chuẩn là 9,3m, từ tâm trục bánh sau xe đạp (4) đo vào mép chuẩn là 8,3m.

Từ tâm trục bánh sau xe đạp (4) đo đến tâm vùng chất bẩn màu nâu đỏ là 0,9 mét. Vùng chất bẩn màu nâu đỏ được ký hiệu số (5) trên sơ đồ hiện trường. Vùng chất bẩn (5) nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất phía bên phải đường quốc lộ 1A theo hướng mô tả. Vùng chất bẩn (5) có màu nâu đỏ, không rõ hình, kích thước (0,2 x 0,27)m. Từ tâm vùng chất bẩn (5) đo đến mép đường chuẩn là 9m.

Từ tâm vùng chất bẩn (5) đo đến vùng mảnh vỡ là 12,4m, vùng mảnh vỡ được ký hiệu số (6) trên sơ đồ hiện trường. Vùng mảnh vỡ (6) nằm nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới (làn đường tiếp giáp với dải phân cách cứng) phía bên phải đường quốc lộ 1A theo hướng mô tả. Vùng mảnh vỡ (6) gồm 02 mảnh vỡ: Một mảnh vỡ màu đen không rõ hình dạng, kích thước (0,2x0,12)m; một mảnh vỡ một mặt màu bạc, một mặt màu đỏ, không rõ hình dạng, kích thước (0,2x0,17)m. Từ tâm vùng mảnh vỡ (6) đo đến mép chuẩn là 9,6m.

Mở rộng hiện trường ghi nhận cách vị trí xảy ra tai nạn giao thông 80 mét theo hướng mô tả có 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại: RUSH, màu đỏ, BKS: 61A-593.17 đỗ trước cửa nhà ông Đặng Sỹ M, sinh năm 1960, trú tại thôn H, xã T (tiếp giáp với đường Q); đầu xe hướng vào nhà ông M, đuôi xe hướng ra đường quốc lộ 1A, phía bên trái đầu xe và gương bên trái xe ô tô BKS: 61A-593.17 bị trầy xước, hư hỏng.

Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được:

  • 01 (một) xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA; số loại: RUSH; màu sơn: đỏ; BKS: 61A-593.17; đã qua sử dụng (kèm theo giấy tờ xe, giấy phép lái xe).
  • 01 (một) xe đạp màu xanh, trên khung xe có ghi chữ “Thống nhất”, xe có treo giá gỗ phía sau dàn đèo, đã qua sử dụng.
  • Mẫu chất bẩn màu nâu đỏ thu tại vị trí số (5) trên hiện trường.
  • 02 (hai) mảnh vỡ thu tại vị trí số (6) trên hiện trường

* Biên bản khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 61A-593.17 do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập hồi 16h00, ngày 26/01/2025 phản ánh:

a) Về phương tiện, giấy tờ:

  • 01 giấy phép lái xe hạng B2, số G, mang tên Lưu Văn N;
  • 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 092729, xe đăng ký BKS 61A-593.17;
  • 01 giấy chứng nhận kiểm định 4836270, xe đăng ký BKS: 61A-593.17;
  • 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô đối với chủ xe BKS: 61A-593.17.

b) Dấu vết trên phương tiện: Xe ô tô BKS: 61A-593.17

  • Góc bên trái của ba đờ xốc phía trước có dấu vết nứt vỡ, trượt xước, kích thước (59x18,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cao cách mặt đất 33 cm;
  • Ốp đèn gầm phía trước bên trái có dấu vết trượt xước mất sơn, KT(10x2)cm chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái, tâm cao cách mặt đất 43,5cm;
  • Góc bên trái ba đờ xốc phía trước có dấu vết nứt vỡ, trượt xước mất sơn và bám dính chất màu xanh, kích thước (43,5x56)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cao cách mặt đất 65cm;
  • Ốp chắn bùn bánh trước bên trái bị bung rời khỏi phương tiện;
  • Góc bên trái nắp ca pô phía trước có dấu vết trượt xước, mất sơn, kích thước (23x6,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cao cách mặt đất 97cm;
  • Ốp sườn phía trước bên trái có dấu vết móp lõm, trượt xước, mất sơn, kích thước (63x34)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cao cách mặt đất 91cm;
  • Ốp chắn bùn phía sau bánh phía trước bên trái có dấu vết mài trượt, kích thước (60x6)cm, tâm cao cách mặt đất 77,5cm;
  • Gương chiếu hậu bên trái bị gãy vỡ bung rời khỏi vị trí ban đầu;
  • Mặt ngoài cửa phía trước bên trái có dấu vết trượt xước, kích thước (30x0,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cao cách mặt đất 95,5cm;

* Kỹ thuật an toàn phương tiện:

  • Hệ thống còi, phanh, điều khiển hoạt động bình thường;
  • Gương chiếu hậu bên trái bị hư hỏng;
  • Phương tiện có gắn camera, thiết bị giám sát hành trình tại gương chiếu hậu phía bên trong xe.

Nhận xét tình trạng phương tiện: hoạt động được bình thường

* Biên bản khám nghiệm xe đạp do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập hồi 16h35 ngày 26/01/2025 phản ánh:

a) Về phương tiện: 01 xe đạp màu xanh, tại khung xe có ghi chữ “Thống Nhất”, đã qua sử dụng.

b) Dấu vết trên phương tiện: Xe đạp nhãn hiệu “Thống Nhất”

  • Góc phía sau bên phải giỏ xe có dấu vết rách, móp méo, kích thước (16x12)cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm cao cách mặt đất 78cm;
  • Tay phanh phía bên phải có dấu vết cong vênh, mặt ngoài có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), kích thước (7x1,2)cm, chiều hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, tâm cao cách mặt đất 97cm;
  • Đầu mút tay lái bên phải có dấu vết mài trượt, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), kích thước (2x0,3)cm, tâm cao cách mặt đất 100cm;
  • Đầu mút tay lái bên trái có dấu vết mài trượt, kích thước (2x2,1)cm, tâm cao cách mặt đất 96cm;
  • Mặt ngoài càng bên phải phía trước có dấu vết mài trượt, kích thước (6x0,5)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, tâm cao cách mặt đất 51cm;
  • Mặt bên phải khung bên phải phía trên của xe có dấu vết mài trượt, mất sơn, bám dính chất màu đỏ, kích thước (25x1)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, tâm cao cách mặt đất 48,5cm;
  • Mặt ngoài của ốp bảo vệ xích có dấu vết móp lõm, bám dính chất màu đỏ, màu trắng (dạng sơn), kích thước (12x2)cm, tâm cao cách mặt đất 40cm;
  • Cần bàn đạp bên phải có dấu vết cong vênh, mặt ngoài có bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), kích thước (14x2)cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm cao cách mặt đất 28cm;
  • Mặt ngoài bàn đạp bên phải có dấu vết mài trượt, bám dính chất màu đỏ, kích thước (3x2,3)cm; Yên xe bị bung rời khỏi vị trí ban đầu;
  • Yên sau của xe có cố định một dàn đèo bằng gỗ, dàn đèo bị gãy bung rời khỏi vị trí cố định, mặt bên phải thanh phía trước của dàn gỗ có dấu vết mài trượt, bám dính chất màu đen, kích thước (4x0,5)cm, tâm cao cách mặt đất 76cm; mặt bên phải của thanh gỗ phía sau có dấu vết mài trượt, bám dính chất màu đen, kích thước (2x1,6)cm, tâm cao cách mặt đất 76cm;
  • Mặt ngoài phần bên phải của trục bánh sau có dấu vết trượt xước, kích thước (0,8x0,7)cm, tâm cao cách mặt đất 33,5cm;

Kỹ thuật an toàn phương tiện(4):

  • Hệ thống phanh, hệ thống chuyển động bình thường;
  • Phương tiện không gắn hệ thống đèn chiếu sáng.

Nhận xét tình trạng phương tiện: bị hư hỏng, hoạt động được

* Biên bản khám nghiệm tử thi hồi 08h45 ngày 27/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phản ánh:

Tử thi nữ giới, được xác định là bà Phạm Thị H1, sinh năm 1949, HKTT: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Thể trạng: Trung bình; chiều dài đỉnh – gót: 152cm. Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

  • Vùng chẩm, trên sau đỉnh vành tai trái 6cm, cách đường chân tóc gáy 4cm có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước: 12cm x 10cm; trên nền sưng nề có vết dập da, kích thước: 3cm x 1cm.
  • Mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước: 12cm x 8cm.
  • Mặt trong 1/3 dưới cẳng chân trái có đám sưng nề, bầm tụ máu trên diện: 14cm x 7cm, trên nền sưng nề, bầm tụ máu có vết thương, kích thước: 4cm x 1cm.
  • Ngay thắt lưng có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước: 15cm x 6cm.
  • Giải phẫu vùng đầu: Tụ máu dưới da đầu vùng chẩm; Tách khớp xương hộp sọ

* Tại Bản kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh H, ghi nhận kết quả khám nghiệm tử thi bà Phạm Thị H1 hồi 08h45 ngày 27/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và kết luận nguyên nhân chết của bà Phạm Thị H1: Chấn thương sọ não

* Tại Bản kết luận giám định 307/KL-KTHS ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất bẩn màu nâu đỏ thu tại vị trí số (5) trên hiện trường (ký hiệu là M) gửi tới giám định là máu thuộc nhóm máu A trong hệ nhóm máo ABO, cùng nhóm máu với mẫu máu thu từ tử thi Phạm Thị H1 (sinh năm 1949, HKTT: xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh) (ký hiệu là S) .

* Về giám định dấu vết cơ học:

Tại Bản kết luận giám định 302/KL-KTHS ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

  • Xe ô tô mang biển kiểm soát 61A-593.17 và xe đạp có va chạm với nhau.

+ Vị trí va chạm:

  • Góc phía trước bên trái nắp ca pô phía trước xe ô tô va chạm với tay lái, tay phanh bên phải xe đạp.
  • Góc bên trái Ba-đơ-xốc phía trước xe ô tô va chạm với mặt bên phải khung giữa, ốp bảo vệ xích, cần bàn đạp và bàn đạp bên phải xe đạp.

+ Xe ô tô mang biển kiểm soát 61A-593.17 va chạm với xe đạp theo chiều từ phải sang trái, từ sau ra trước.

+ Vị trí va chạm giữa xe ô tô mang biển kiểm soát 61A-593.17 và xe đạp nằm trên làn đường xe cơ giới thứ nhất, phần đường bên phải đường Q, thuộc địa phận xã T, huyện T theo chiều từ thành phố H đi huyện C.

  • Không đủ cơ sở xác định xe ô tô mang biển kiểm soát 61A-593.17 có va chạm với cơ thể bà Phạm Thị H1 không.
  • 01 (một) mảnh vỡ màu đen, không rõ hình dạng, có kích thước (20x12)cm được gãy vỡ rơi ra từ góc phía dưới bên trái Ba-đơ-xốc phía trước và 01 (một) mảnh vỡ một mặt màu bạc, một mặt màu đỏ, không rõ hình dạng, có kích thước (20x17)cm được gãy vỡ rơi ra từ ốp gương chiếu hậu bên trái xe ô tô mang biển kiểm soát 61A-593.17.

* Về định giá thiệt hại tài sản: Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 07/KLĐG ngày 17/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định:

  • Tài sản thứ nhất: 01 (một) xe ô tô con biển kiểm soát 61A-593.17, nhãn hiệu Toyota, số loại: RUSH, màu sơn đỏ, số khung: MHKE8FF3VJK002350, số máy: 2NRF792664, đã qua sử dụng, thiệt hại 9.100.000 đồng;
  • Tài sản thứ hai: 01 (một) xe đạp màu xanh, tại số khung xe có ghi chữ “Thống Nhất”, đã qua sử dụng, thiệt hại 350.000 đồng.

Tổng cộng: 9.450.000 đồng

* Vật chứng thu giữ bao gồm:

  • 01 xe ô tô biển kiểm soát 61A-593.17, nhãn hiệu Toyota, số loại RUSH, màu sơn Đỏ, số khung MHKE8FF3VJK002350, số máy 2NRF792664.
  • 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 092729, cấp ngày 26/3/2019 xe đăng ký biển kiểm soát 61A-593.17; tên chủ xe Lưu Văn N.
  • 01 giấy chứng nhận kiểm định số DA4836270, do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 6005D cấp ngày 19/4/2023.
  • 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô đối với chủ xe BKS 61A-593.17.
  • 01 xe đạp màu xanh, khung xe có ghi chữ “Thống Nhất”, đã qua sử dụng
  • 01 giấy phép lái xe hạng B2, số [...], mang tên Lưu Văn N; có giá trị đến ngày 14/9/2026.
  • 01 mảnh vỡ màu đen không rõ hình dạng, kích thước (20x12)cm;
  • 01 mảnh vỡ một mặt màu bạc, một mặt màu đỏ, không rõ hình dạng, kích thước (20x17)cm.
  • 01 chiếc xe đạp màu xanh, tại khung xe có ghi chữ “Thống Nhất”.

Đến ngày 11/02/2025, xét thấy không ảnh hưởng đến công tác điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại số tài sản là vật chứng nói trên cho chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của chủ sở hữu Còn 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Lưu Văn N được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Với hành vi nêu trên, tại Bản án sơ thẩm số 16/2025/HS-ST, ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 3, Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Văn N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/4/2025, bị cáo Lưu Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lưu Văn N. Sửa Bản án sơ thẩm số 16/2025/HS-ST, ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh: Xử phạt bị cáo Lưu Văn N 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí HSPT theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Lưu Văn N trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lưu Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 40 phút ngày 26/01/2025, Lưu Văn N có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 61A-593.17 đi trên tuyến đường Q từ thành phố H đi huyện C. Khi đi đến km 500+150 trên tuyến đường Quốc lộ IA, thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh do thiếu chú ý quan sát, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ và tín hiệu đèn giao thông, đã gây tai nạn làm bà Phạm Thị H1 bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu, đến ngày 27/01/2025 thì bị tử vong, xe ô tô và xe đạp bị hư hỏng nhẹ. Hành vi của bị cáo Lưu Văn N đã vi phạm khoản 1 Điều 10 - Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ quy định về "Quy tắc chung"; điểm b, c khoản 2 và điểm b khoản 4 Điều 11 - Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ quy định “Chấp hành báo hiệu đường bộ”; điểm a, b, c khoản 3 Điều 12 - Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ quy định “Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe”.

Do đó, Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Lưu Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[2.2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng đã không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, nhất là tại khu vực có tín hiệu đèn giao thông, có vạch chỉ đường dành cho người đi bộ, dẫn đến tai nạn, hậu quả làm bà Phạm Thị H1 bị tử vong. Vì vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lưu Văn N 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại đểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả gây ra; đại diện hợp pháp của gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của ban lãnh đạo khu phố nơi bị cáo cư trú, biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo trong quá trình lượng hình.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lưu Văn N là người có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần cải biện pháp chấp hành án, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương nơi bị cáo cư trú, nhằm giảm bớt những khó khăn của bị cáo, thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Lưu Văn N được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lưu Văn N. Sửa Bản án sơ thẩm số 16/2025/HSST ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt đối với bị cáo Lưu Văn N.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Văn N 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lưu Văn N cho UBND phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương giáo dục và Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  1. Về án phí: Bị cáo Lưu Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thu Hiền

Trần Khắc Hoàng

Bùi Minh T2

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • TA, VKS, Công an, THA sơ thẩm;
  • Sở tư pháp Hà Tĩnh;
  • Phòng PV 06 CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • Bị cáo; đại diện bị hại;
  • Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HSPT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 39/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn N "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger