|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2025/HSPT Ngày: 18/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thông
Các thẩm phán:
Ông Hà Văn Nâu
Bà Hoàng Thị Hải Hường
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên.
Ngày 18/03/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 297/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn H1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 229/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2025/QĐXXPT-HS ngày 07/01/2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 21/2025/TB - LPT ngày 22/01/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 35/2025/HSPT-QĐ ngày 21/02/2025.
* Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn H1, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;
Nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Căn hộ D (Tầng D), Tòa S2, Chung cư G, số A đường H, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Lê Anh T; Con bà: Nguyễn Thị N; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị H2; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2023 đến ngày 20/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh tại ngoại (có mặt).
* Ngoài ra vụ án còn có người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 40 phút ngày 20/9/2023, tại nhà xưởng thuộc Công ty cổ phần S, có địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý Kinh tế và Chức vụ- Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện V (nay là thị xã V), Thanh tra, Chi Cục Bảo vệ thực vật thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh B phát hiện, bắt quả tang Phạm Viết V đang có hành vi sản xuất hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật. Tổ công tác đã phát hiện, thu giữ: 48.300 gói sản phẩm có thông tin bao bì thể hiện “THUỐC TRỪ SÂU- Finico 800WG", 1.300 chai sản phẩm có tem nhãn thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- NIPHOSATE 480SL” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty Cổ phần N2; 360 chai sản phẩm có tem nhãn thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- LYPHOXIM 41SL” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty Cổ phần B1; 100 chai sản phẩm có dán tem nhãn thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- MOBAI 48SL” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty trách nhiệm hữu hạn T8 (Phân phối bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn T9); 14.000 gói sản phẩm có thông tin bao bì thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ THẾ HỆ MỚI- BIOGIY88.8SP” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty trách nhiệm hữu hạn N3; 01 chiếc máy đóng gói dạng túi; 03 chiếc máy rót; 06 chiếc thùng chứa dung dịch dạng lỏng; 01 chiếc máy bơm dung dịch; 01 chiếc máy nâng; 01 chiếc máy đóng đai; 01 chiếc máy đóng nắp chai; 02 chiếc cân; 02 dấu dập date ngày tháng năm “17-10-19” và “01-04-2019”; một số tem nhãn và, vỏ chai được để trong 07 thùng giấy cát tông; 01 Căn cước công dân mang tên Phạm Viết V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, lắp 02 thẻ sim; 01 tờ “Phiếu xuất kho” đề ngày 14/9/2023 của Công ty Cổ phần S1 (tất cả được niêm phong theo quy định).
Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Phạm Viết V khai nhận làm thuê cho Lê Văn H1. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Lê Văn H1 khai nhận về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật và có đơn xin đầu thú; số thuốc bảo vệ thực vật, máy móc, nguyên liệu, bao bì, tem nhãn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B thu giữ tại nhà xưởng của Công ty cổ phần S thuộc sở hữu của H1. Khi đầu thú, H1 giao nộp gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim; 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ “Redmi made in China Model: M2003J6A1G”, lắp 02 thẻ sim (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “ĐT H1 -20-9-23”); 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY, màu sơn đen, biển kiểm soát 30H- 778.49; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 0189190/22 chủ xe mang tên Lê Văn H1; 01 bản sao Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 30H- 778.49 đứng tên chủ xe Lê Văn H1; 01 Giấy biên nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 30H- 778.49 thế chấp của Ngân hàng Thương mại cổ phần V3 (V4).
2
Ngày 20/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Lê Văn H1 tại: Căn hộ D, tòa nhà S, Chung cư G, địa chỉ: số A, đường H, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Kết quả thu giữ gồm: 01 tem nhãn có thông tin “Thuốc trừ cỏ MOBAI 48SL loai thể tích thực 1 lít”; 01 tem nhãn có thông tin “Thuốc trừ cỏ MOBAI 48SL loại thể tích thực 5 lít”; Cùng nhiều giấy tờ, tài liệu liên quan hoạt động sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật giả được thống kê trong hồ sơ vụ án.
Ngày 05/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã V- Bộ C1 giám định đối với mẫu thuốc bảo vệ thực vật thu giữ trong quá trình bắt quả tang. Tại Bản kết luận giám định số 2530/KL-THHS ngày 12/4/2024 của V5- Bộ C1 kết luận: Thành phần hoạt chất ghi trên nhãn sản phẩm đề nghị trưng cầu giám định như sau: Mẫu bột trong 10 (mười) gói sản phẩm mang nhãn “THUỐC TRỪ CỎ THẾ HỆ MỚI BIOGIY88.8SP”; mẫu chất lỏng trong 10 (mười) chai sản phẩm mang nhãn “THUỐC TRỪ CỎ NIPHOSATE 480SL”, 10 (mười) chai sản phẩm mang nhãn “THUỐC TRỪ CỎ LYPHOXIM 41SL", 10 (mười) chai sản phẩm mang nhãn “THUỐC TRỪ CỎ KHÔNG CHỌN LỌC MOBAI 48SL” gửi giám định đều chứa Glyphosate như ghi trên nhãn sản phẩm. Mẫu bột trong 10 (mười) gói sản phẩm mang nhãn “THUỐC TRỪ SÂU- Finico 800WG” gửi giám định đều có chứa fipronil như ghi trên nhãn sản phẩm.
Ngày 05/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã V yêu cầu định giá tài sản đối với các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật giả thu giữ trong quá trình bắt quả tang. Tại Kết luận định giá tài sản số 63b/KL-HĐĐGTS ngày 30/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thị xã V kết luận: 14.000 gói sản phẩm có thông tin trên bao bì thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ THẾ HỆ MỚI- BIOGIY88.8SP" có trị giá 69.300.000 đồng; 48.300 gói sản phẩm có thông tin trên bao bì thể hiện “THUỐC TRỪ SÂU- Finico 800WG” có trị giá 74.865.000 đồng; 1.300 chai sản phẩm có tem nhãn thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- NIPHOSATE 480SL” có trị giá 35.490.000 đồng; 360 chai sản phẩm có tem nhãn thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- LYPHOXIM 4 1SL” có trị giá 14.220.000 đồng; 100 chai sản phẩm có tem nhãn thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- MOBAI 48SL” có trị giá 5.600.000 đồng. Tổng giá trị là 199.475.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn H1 khai nhận hành vi phạm tội như sau: Lê Văn H1 bắt đầu kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật từ năm 2019 trên ứng dụng facebook do thấy nhu cầu mua thuốc bảo vệ thực vật của mọi người cao. H1 vào các nhóm mua, bán thuốc bảo vệ thực vật trên facebook để khảo sát giá bán, sau đó đăng bài bán thuốc bảo vệ thực vật với giá cao hơn để hưởng chênh lệch. Khi có người mua thì H1 chốt giá, đặt mua rồi thuê vận chuyển trực tiếp từ người bán sang người mua hàng để hưởng lợi. Đến đầu năm 2021, H1 nắm được thông tin Nhà nước cấm một số sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật chứa chất Glyphosate, fipronil (thuốc trừ cỏ và thuốc trừ sâu) nhưng nhiều người vẫn đặt mua các loại thuốc chứa hoạt chất này mà không có hàng bán, người dân đã quen dùng, thuốc có tác dụng diệt cỏ, sâu nhanh. Cùng thời điểm này, trên ứng dụng facebook có người phụ nữ đăng bán nguyên liệu để làm một số sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật nên H1 nảy sinh ý định làm giả thuốc bảo vệ thực vật để bán kiếm lời. Tháng
3
02/2021, Lê Văn H1 đã ký hợp đồng thuê một nhà xưởng của Công ty Cổ phần S, có địa chỉ tại thôn Đ, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; đồng thời H1 sử dụng tài khoản facebook “Minh L” trao đổi với tài khoản “V1.n” để thuê Phạm Viết V đứng máy, đóng thuốc bảo vệ thực vật. Ngày 23/2/2021, V đến Công ty cổ phần S với công việc ban đầu là gỡ đinh pallet gỗ thông, đến cuối tháng 6/2021 thì bắt đầu sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả của: Công ty trách nhiệm hữu hạn N3, Công ty N2, Công ty trách nhiệm hữu hạn T9, Công ty Cổ phần B1. H1 hướng dẫn V thực hiện sản xuất thuốc bảo vệ thực vật: Đối với thuốc bảo vệ thực vật là dạng chất lỏng thì vận chuyển nâng các thùng dung dịch đưa lên téc chiết rót, chiết rót các dung dịch là thuốc bảo vệ vào chai bằng máy chiết rót, dán màng seal vào miệng chai và đậy nắp, dán tem nhãn (tùy vào từng loại thì dán tem nhãn mác khác nhau theo chỉ đạo của H1) vào chai, đóng các chai thuốc bảo vệ thực vật đã thành phẩm vào các thùng bìa cát tông theo đúng chủng loại; Đối với các loại thuốc bảo vệ thực vật là dạng bột thì đổ các chất bột là thuốc bảo vệ thực vật dạng bột lên phễu của máy đóng gói sau đó nắp và cài đặt cuộn túi bóng (vỏ túi đã được dập tem nhãn của từng tên loại thuốc bảo vệ thực vật) vào máy, cài đặt lượng thuốc vào từng gói sau đó bấm nút khởi động máy và máy tự động chảy bột theo đúng lượng thuốc (theo số lượng H1 đã cài đặt từ trước) rồi dập hàn miệng túi, máy tự cắt rời từng túi, sau đó nhặt đếm số lượng túi vào hộp bìa cát tông và đóng lại dán băng dính kín. Đối với các sản phẩm đóng túi thì chỉ làm được hai tháng do sau đó máy đóng túi hỏng không hoạt động được. V được H1 trả cho mức lương từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng/1 tháng. Ngoài V, H1 còn thuê chị Đặng Thị H3- sinh năm 1977 (là vợ của V) với mức lương khoảng 06 triệu đồng/1 tháng, một số người khác H1 chỉ biết tên là L1, P, T1,... để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả (H1 không biết họ, tên đệm, thông tin, cách liên lạc của những người này). Lê Văn H1 không cho Phạm Viết V, Đặng Thị H3 và những người được thuê biết việc được thuê để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả (H1 không nhớ được thông tin, cách liên lạc của những người này).
Để thực hiện hành vi phạm tội, Lê Văn H1 đã chủ động mua máy, nguyên liệu để sản xuất, làm giả thuốc bảo vệ thực vật như sau: H1 mua máy đóng gói và máy rót của ông Phan Văn V1- sinh năm 1959, trú tại thôn V, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; Mua máy hàn miệng túi của anh Hà Phi L2- sinh năm 1988, trú tại Đội 2, thôn S, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội và đặt mua máy màng seal trên mạng Internet. H1 sử dụng tài khoản facebook “An Lê” và “Minh Lê” của H1 đăng nhập vào nhóm buôn bán thuốc bảo vệ thực vật để tìm mua nguyên liệu sản xuất thuốc trừ sâu giả. H1 có liên hệ với người đàn ông tên D (H1 khai không nhớ nick facebook và chưa gặp người này, chỉ biết người này giới thiệu tên là D ở Lạng Sơn) và hỏi mua dung dịch thuốc trừ cỏ dạng nước thì người này đồng ý bán. Từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2023, H1 đã mua của D 03 lần, mỗi lần 30 can dung dịch (mỗi can 20 lít) với giá 30.000 đồng/01 lít. Các lần mua, D đều cho người chở đến xưởng H1 thuê tại Công ty Cổ phần S và V là người nhận hàng. Sau đó, D cho người đến gần chỗ H1 ở là phường M, quận C, thành phố Hà Nội để lấy tiền. Số tiền mà H1 đã thanh toán cho D là 54.000.000
4
đồng. Số dung dịch này, H1 bảo Vĩnh đóng vào chai nhựa và dán tem nhãn “THUỐC TRỪ CỎ- NIPHOSATE 480SL” của Công ty Cổ phần N2, H1 đã sản xuất được khoảng hơn 100 thùng (20 chai/01 thùng) và đóng vào chai nhựa “THUỐC TRỪ CỎ- MOBAI 48SL” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty trách nhiệm hữu hạn T8 (Phân phối bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn T9). Đối với nguyên liệu dạng bột, từ cuối năm 2022 đến đầu năm 2023 H1 đã lên mạng xã hội facebook và đặt mua của người phụ nữ khoảng 35 tuổi (H1 không biết họ tên, địa chỉ của người nay) 30 bao tải nguyên liệu (mỗi bao 25kg). Sau đó, người này cho chở nguyên liệu đến xưởng của H1 thuê tại Công ty Cổ phần S. H1 hướng dẫn Vĩnh đóng vào gói “THUỐC TRỪ CỎ THẾ HỆ MỚI- BIOGIY88.8SP" thể hiện sản phẩm của Công ty trách nhiệm hữu hạn N3 với khối lượng 50g/1 gói, 250 gói đóng vào 01 thùng. H1 chỉ đạo Vĩnh đóng được khoảng 28 thùng thì máy đóng gói hỏng nên không sản xuất tiếp được. H1 đã chỉ đạo Vĩnh pha số nguyên liệu dạng bột còn lại với nước để đóng vào chai có tem nhãn thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- LYPHOXIM 41SL” của Công ty Cổ phần B1. Do máy hỏng không sản xuất được “THUỐC TRỪ CỎ THẾ HỆ MỚI- BIOGIY88.8SP” và có nhiều người đặt mua và biết một số loại thuốc đã bị cấm sản xuất, trên thị trường không có bán. Từ tháng 03/2023 đến tháng 9/2023, H1 đã mua của người phụ nữ trên thuốc trừ sâu và thuốc trừ cỏ giả để bán lại kiểm lời; cụ thể: H1 mua 50 thùng “THUỐC TRỪ SÂU- Finico 800WG” giả (mỗi thùng chứa 1.000 gói), sau đó H1 chỉ đạo Vĩnh đóng vào vỏ hộp H1 đã đặt mua từ trước thể hiện sản phẩm của Công ty Cổ phần N2 (đóng 20 gói vào 01 hộp nhỏ, 20 hộp nhỏ đóng vào 01 hộp nhỡ, 10 hộp nhỡ đóng vào 01 thùng cát tông), Vĩnh đá đóng được 50 thùng cát tông. H1 đã mua của người phụ nữ trên 165 thùng (mỗi thùng có 250 gói) “THUỐC TRỪ CỎ THẾ HỆ MỚI- BIOGIY88.8SP” giả thể hiện sản phẩm của Công ty trách nhiệm hữu hạn N3. H1 đã thanh toán số tiền mua nguyên liệu và thuốc trừ sâu, trừ cỏ giả cho người phụ nữ bằng tiền mặt là 180.000.000 đồng tại gần chỗ H1 ở là phường M, quận C, thành phố Hà Nội. H1 biết các thuốc trừ cỏ và trừ sâu trên là giả vì đã bị Cục B2- Bộ N4 cấm sản xuất, nhập khẩu; chỉ được buôn bán, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất fipronil, chất glyphosate đến ngày 30/6/2021.
Lê Văn H1 đã trực tiếp đặt sản xuất, đặt mua chai nhựa tại Công ty Cổ phần S1 có địa chỉ tại: Cụm C, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 2021 đến tháng 9/2023, Công ty Cổ phần S1 đã sản xuất, bán vỏ chai nhựa không có logo, nắp chai, seal, có phiếu xuất kho cho Lê Văn H1 theo Hợp đồng nguyên tắc số 022021/HĐNT ngày 21/02/2021. Ngoài ra, H1 đã đem vỏ chai nhựa, nắp chai, màng seal đến Công ty trách nhiệm hữu hạn, có địa chỉ tại: Số D, ngách E đương thôn C, xã S, huyện H, thành phố Hà Nội để đặt sản xuất theo yêu cầu. Quá trình sản xuất, bán hàng cho Lê Văn H1, Công ty trách nhiệm hữu hạn đã sản xuất và giao hàng cho H1 (có phiếu xuất kho kèm theo).
H1 trực tiếp đặt sản xuất, đặt mua thùng bìa carton của chị Trần Thị Thanh T2- sinh năm 1984, trú tại: Số A, đường C, phường T, thành phố B (là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn S2). Từ khoảng cuối năm 2022 đến tháng 9/2023, Lê Văn H1 có khoảng 03 lần liên hệ, đặt mua thùng cát tông của chị T2, mỗi lần
5
từ khoảng 100 đên 150 thùng, đặc điểm thùng carton không in thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân nào, giá thỏa thuận là khoảng từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng/1 thùng. Chị T2 đã được H1 chuyển thanh toán 03 lần từ tài khoản ngân hàng số 8385688888888 của Lê Văn H1 đến tài khoản ngân hàng số 2500205168722 của chị T2, cụ thể: ngày 08/3/2023 H1 chuyển 41.000.000 đồng; ngày 25/4/2023 H1 chuyển 45.000.000 đồng và ngày 13/9/2023 H1 chuyển 20.000.000 đồng đến số tài khoản 19038524643012 của chị T2.
Ngoài ra, H1 sử dụng tài khoản facebook “An Lê” và “Minh Lê” của H1 để liên hệ, trao đổi với người có tài khoản facebook “Thành N1” mua tem nhãn thuốc bảo vệ thực vật; sử dụng tài khoản ngân hàng số 8385688888888 mở tại Ngân hàng TMCP Q của H1 để thanh toán tiền mua vỏ gói, vỏ túi thuốc bảo vệ thực vật qua tài khoản số 03382735201 mở tại Ngân hàng T10 của Nguyễn Quang H4- sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Sau khi sản xuất được thuốc bảo vệ thực vật giả, Lê Văn H1 sử dụng tài khoản facebook “Minh L” giới thiệu tên là M và tài khoản facebook tên “An Lê” giới thiệu tên là A để đăng bài trên các hội, nhóm bán thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc trừ sâu Finico 800WG, thuốc trừ cỏ Niphose 480SL trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty cổ phần N2; thuốc trừ cỏ LYPHOXIM 41SL trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty Cổ phần B1,... và đã bán cho Lê Duy H5- sinh năm 1985, trú tại xóm Đ, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Phùng Kim H6- sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nguyễn Văn T3- sinh năm 1989, trú tại xóm B, T, Q, Q, Nghệ An; Đặng Tuấn D- sinh năm 1988, trú tại tổ C, phố N, thị xã A, tỉnh Gia Lai và Nguyễn Văn T4- sinh năm 1986, trú tại T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Khi bán hàng, H1 không nói đây là thuốc bảo vệ thực vật giả. Lê Văn H1 sử dụng xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 98C-199.64 của anh Nguyễn Văn T5- sinh năm 1989, trú tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (anh T5 là em vợ của H1); thuê anh Lê Văn T6- sinh năm 1991, trú tại Ngõ G, đường N, phường L, quận H, Hà Nội; anh Hoàng Mạnh C- sinh năm 1994, trú tại tổ A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội và anh Đinh Văn B- sinh năm 1995, trú tại Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ vận chuyển và gửi xe chở hàng để vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật giao cho khách. Khi mượn xe của anh T5 cũng như thuê các anh C, T6 và B chở hàng, gửi xe chở thuốc bảo vệ thực vật, H1 đều không nói bản thân sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật giả. H1 khai nhận việc mua bán thuốc bảo vệ thực vật giả H1 không ghi chép sổ sách, việc bán hàng được thực hiện qua mạng xã hội nên không nhớ tổng số tiền đã bán, H1 chỉ nhớ đã được hưởng lợi từ việc sản xuất, bán thuốc bảo vệ thực vật giả khoảng 70.000.000 đồng.
Kết quả làm việc với Công ty trách nhiệm hữu hạn N3, Công ty N2, Công ty trách nhiệm hữu hạn T9, Công ty Cổ phần B1 đều khẳng định không ủy quyền, không ký hợp đồng sản xuất, gia công, đóng chai thuốc bảo vệ thực vật với Lê Văn H1.
6
Ngày 26/9/2023, Công ty cổ phần S1 cung cấp cho Cơ quan điều tra: 01 chai nhựa màu nâu, nắp nhựa màu trắng, chưa qua sử dụng; 01 chai nhựa màu trắng, nắp nhựa màu vàng, trên chai có dòng chữ “ĐỘC! KHÔNG SỬ DỤNG LẠI”; 01 chai nhựa màu xanh, nắp nhựa mâu đỏ, chưa qua sử dụng, toàn bộ các chai được cho vào 01 thùng giấy mầu đỏ dán kín và được niêm phong ký hiệu “Vỏ chai 26-9-2023”. Đây là các mẫu Công ty cổ phần S1 sản xuất và bán cho Lê Văn H1.
Ngày 27/9/2023, Công ty trách nhiệm hữu hạn cung cấp cho Cơ quan điều tra: 01 chai nhựa pet 1 lít (màu xanh), dưới đáy chai có chữ “ĐỘC KHÔNG SỬ DỤNG LẠI” (được niêm phong đề ngày 27/9/2023). Đây là mẫu Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và bán cho Lê Văn H1.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 229/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 195, điểm t, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 03 (ba) năm tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2023 đến ngày 20/12/2023.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H1 30.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 07/10/2024 bị cáo Lê Văn H1 kháng cáo xin hưởng án treo.
- Ngày 27/10/2024 bị cáo Lê Văn H1 bổ sung kháng cáo, xin cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
* Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn H1 giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo và khai nhận toà bộ hành vi phạm tội.
* Bị cáo Lê Văn H1 trình bày: Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo có mẹ già và 03 con nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Đây là lần đầu bị cáo phạm tội nên mong HĐXX cho bị cáo một cơ hội để được ở nhà chăm sóc gia đình, sửa chữa lỗi lầm. Bị cáo có bố ruột là ông Lê Anh T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì do có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Gia đình bị cáo có bác ruột là Liệt sỹ Lê Văn Đ, ông Lê Anh T là bố bị cáo đang thờ cúng. Bản thân bị cáo đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển thôn P, xã L. Bị cáo tự nguyện nộp trước tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm số tiền 30.200.000đồng.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Ngày 17/9/2024 bị cáo H1 đã cung cấp thông tin cho
7
Công an huyện Y, tỉnh Sơn La về một đối tượng là nam giới có biểu hiện vi phạm pháp luật. Do đó Công an huyện Y đã xử lý được đối tượng. Việc làm trên của bị cáo H1 là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo Lê Văn H1 có tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Văn H1. Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 03 (ba) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
* Bị cáo H1 nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai. Thời gian bị tạm giam bị cáo đã thấy rất hối hận, mong HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo ở nhà chăm sóc mẹ già cùng vợ và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Về tội danh của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Bị cáo Lê Văn H1 không được cấp phép sản xuất, buôn bán các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật; không được tổ chức, cá nhân nào ủy quyền, cấp phép gia công, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật nhưng vì mục đích vụ lợi nên tháng 02/2021, H1 đã thuê một nhà xưởng của Công ty Cổ phần S, có địa chỉ thôn Đ, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang và mua máy móc, nguyên liệu để sản xuất, làm giả thuốc bảo vệ thực vật của Công ty trách nhiệm hữu hạn N3, Công ty N2, Công ty trách nhiệm hữu hạn T9, Công ty Cổ phần B1. Ngoài ra, H1 còn mua 50 thùng “THUỐC TRỪ SÂU- Finico 800WG” giả (mỗi thùng chứa 4.000 gói) về đóng vào vỏ hộp đặt mua từ trước thể hiện sản phẩm của Công ty Cổ phần N2 và 165 thùng (mỗi thùng có 250 gói) “THUỐC TRỪ CỎ THẾ HỆ MỚI- BIOGIY88.8SP” giả thể hiện sản phẩm của Công ty trách nhiệm hữu hạn N3 về để bán lại kiếm lời.
Hồi 13 giờ 40 phút ngày 20/9/2023, tại nhà xưởng thuộc Công ty cổ phần S, có địa chỉ thôn Đ, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý Kinh tế và chức vụ- Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện V (nay là thị xã V), Thanh tra, Chi Cục Bảo vệ thực vật thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh B kiểm tra phát hiện, bắt quả tang tại xưởng của H1 quản lý và thu giữ: 48.300 gói sản phẩm có thông tin bao bì thể hiện “THUỐC TRỪ SÂU- Finico 800WG"; 1.300 chai sản phẩm có tem nhãn thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- NIPHOSATE 480SL” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty Cổ phần N2; 360 chai sản phẩm có tem nhãn hiệu thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- LYPHOXIM 41SL” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty Cổ phần B1;
8
100 chai sản phẩm có dán tem nhãn hiệu thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ- MOBAI 48SL” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty trách nhiệm hữu hạn T8 (Phân phối bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn T9); 14.000 gói sản phẩm có thông tin bao bì thể hiện “THUỐC TRỪ CỎ THẾ HỆ MỚI- BIOGIY88.8SP” trên nhãn mác thể hiện sản phẩm của Công ty trách nhiệm hữu hạn N3 có tổng giá trị là 199.475.000 đồng cùng máy móc, công cụ sản xuất hàng giả của Lê Văn H1. Cùng ngày 20/9/2023, Lê Văn H1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và H1 đã thu lợi bất chính số tiền 70.000.000 đồng từ việc buôn bán, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên vẫn cố ý phạm tội. Hành vi nêu trên của bị cáo H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 195 Bộ luật Hình sự như bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi làm giả và bán hàng giả của bị cáo H1 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức có đăng ký kinh doanh và quản lý chất cấm của Nhà nước, do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng trừng trị riêng và phòng ngừa chung.
Do bị cáo chỉ kháng cáo xin hưởng án treo nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định bị cáo phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử nên chỉ xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm, ngày 17/9/2024 bị cáo Lê Văn H1 đã cung cấp thông tin cho Công an huyện Y, tỉnh Sơn La về một đối tượng là nam giới có biểu hiện vi phạm pháp luật tại tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La, từ thông tin đó Công an huyện Y đã phát hiện, bắt quả tang Trần L3, sinh năm 1991 ở tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần L3 vào ngày 25/9/2024. Từ thông tin của bị cáo H1 cung cấp cho Công an huyện Y đã xử lý được đối tượng, chính quyền và người dân đánh giá và ghi nhận, từ đó đến nay tình hình địa bàn đã ổn định. Sự việc trên được Công an huyện Y xác nhận, cung cấp tài liệu. Việc làm trên của bị cáo H1 là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định bị cáo H1 đã tích cực hợp tác với Công an huyện Y trong việc phát hiện tội phạm và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa đúng quy định của pháp luật.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ bổ sung mới, khác phiên tòa sơ thẩm như: Bị cáo có bố ruột là ông Lê Văn T7 (tức Lê Anh T) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì do có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Gia đình bị cáo có bác ruột là Liệt sỹ Lê Văn Đ, ông Lê Anh T là bố bị cáo đang thờ cúng. Bản thân bị cáo tự
9
nguyện nộp trước 30.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000813 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Việt Yên. Ông Lê Văn V2 - Trưởng thôn P, xã L, có xác nhận UBND xã L, huyện Y (nay là thành phố B), tinh Bắc Giang, nội dung: H1 đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển thôn P, xã L trong các năm gần đây, những đóng góp này đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao cơ sở hạ tầng và phát huy tinh thần đoàn kết của cộng đồng dân cư, xây dựng quê hương giàu đẹp. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cơ bản đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, riêng tình tiết bị cáo H1 thông tin cho Công an huyện Y, tinh S về đối tượng phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định bị cáo H1 đã tích cực hợp tác với Công an huyện Y trong việc phát hiện tội phạm và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa đúng quy định của pháp luật, cần phải sửa.
Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án 03 (ba) năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật, đây là mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 195 Bộ luật hình sự, do vậy thấy cần giữ nguyên mức án, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đây là lần đầu tiên phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo có địa chỉ nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Việc không bắt bị cáo H1 phải chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ cho bị cáo H1 được hưởng án treo như hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Điều 65 Bộ luật hình sự như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
10
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn H1. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Văn H1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 229/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 195, điểm u, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Lê Văn H1 03 (Ba) năm tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn H1 cho UBND phường P, quận B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Lê Văn H1 đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm số tiền 30.200.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0000813 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Việt Yên.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Thông |
11
Bản án số 39/2025/HSPT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự (sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật)
- Số bản án: 39/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H1 phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật
