|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HS-ST
Ngày: 28/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Rạng Đông
- Bà Nguyễn Thị Thu Ba
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27 /2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phù Minh Q, Sinh ngày 03 tháng 9 năm 2006, tại: P - Kiên Giang; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Nơi ĐKTT: ấp D, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: ấp D, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Cha: Phù Văn M, sinh năm 1977, còn sống; Mẹ: Nguyễn Thanh T, sinh năm 19+80, còn sống; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. ( có mặt)
Bị hại: Anh Trần Văn S, sinh năm 1970. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1972.( vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Phù Minh Q: Luật sư Trần Tuấn A- thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 23/7/2024 đến ngày 15/8/2024, trên địa bàn xã G và xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do không có tiền tiêu xài, Phù Minh Q đã nhiều lần trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 20 giờ ngày 23/7/2024, Phù Minh Q điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu SWEAR, màu đó, biển số 60L2-5344 (xe mượn của ông Phù Văn M) rủ Nguyễn Văn V (sinh ngày 07/9/2010) đi tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài thì V đồng ý. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô chở V đi từ xã C đến xã G, thành phố P để tìm tài sản lấy trộm, khi đi Q và V mang theo 01 con dao tự chế, dài 78cm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai chạy đến trước khu vực quán "” thuộc ấp G, xã G, thành phố P thì Q nhìn thấy xe mô tô nhân hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen, biển số 68P1- 267.39 của anh Trần Văn S đang đậu bên đường, thấy không có người trông coi. Q dừng xe bên cạnh, rồi đi đến lấy trộm xe mô tô của anh S dẫn đi một đoạn khoảng 500m. Sau đó. Q dùng dao tự chế mang theo mở khóa điện xe mô tô nối lại rồi khởi động xe mô tô chạy về hướng phường D, V điều khiển xe mô tô của Q chạy theo. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô trộm được đến vựa phế liệu của anh Nguyễn Văn L tại ấp B, xã C, thành phố P. Q bán xe mô tô cho anh L được 1.000.000 đồng (khi mua anh L không biết tài sản do trộm cắp mà có). Sau khi bán xe, Q chia cho V 500.000 đồng, Q được 500.000 đồng. Số tiền trên, Q và V đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 19/9/2024, anh Nguyễn Văn L biết được xe mô tô mua của Q là do trộm cắp mà có nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ ngày 15/8/2024, Phù Minh Q điều khiển xe mô tô nhân hiệu SWEAR, màu đỏ, biển số 60L2-5344 chở Nguyễn Văn V đi từ nhà Q tại ấp D, xã C, thành phố P đi đến ấp L, xã C để mua nước uống. Khi đi đến đoạn đường hém vào nhà trọ "Hoa Đẹp" thuộc ấp L, xã C thì Q phát hiện xe mô tô nhãn hiệu FASHION, loại C110, màu đỏ, biển số 67K3-2862 của anh Nguyễn Văn D1 đang đậu trước nhà, thấy không có ai trông coi, trên xe có sẵn chìa khóa. Thấy vậy, Q và V nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên. Sau đó, Q chạy đến vị trí xe mô tô của anh D1, bước lên xe và nổ máy chạy về hướng phường D, V điều khiển xe mô tô của Q chạy theo sau. Trên đường đi Q dừng lại tháo biển số xe vứt bỏ bên đường. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô trộm được cất giấu tại căn nhà hoang thuộc ấp D, xã C. Sau đó Q và V về nhà ngủ. Đến khoảng 07 giờ ngày 16/8/2024, Q điều khiển xe mô tô trộm được đi đến tiệm sửa xe “Phong” thuộc ấp D, xã C do anh Nguyễn Cao T1 làm chủ. Khi gặp anh T1, Q nói xe mô tô của Q bị mất biển số muốn bán với giá 600.000 đồng, thì anh T1 đồng ý mua, (khi mua anh T1 không biết tài sản do trộm cắp mà có). Sau khi mua xe mô tô của Q, anh T1 gắn biển số 64E1-037.19 Thiên nhặt được trước đó và sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến ngày 14/9/2024, anh Nguyễn Cao T1 biết được xe mô tô của của Q là do trộm cắp mà có nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Đến ngày 20/9/2024, Phù Minh Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.
* Tang vật thu giữ :
- - 01 xe mô tô nhân hiệu FASHION, loại C110, màu đỏ, số máy: ZS152FMH0004331, số khung: VTLWCH032TL008031, được gắn biển số 64E1-03719, (đã qua sử dụng).
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, số máy: 5C6K197658, số khung: VC6K0FY197659, màu trắng đen, biển số 68P1-267.39, (đã qua sử dụng).
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu SWEAR, màu đỏ, biển số 60L2-5344 (đã qua sử dụng).
- - Tiền Việt Nam: 600.000 đồng.
- - 01 cây dao tự chế dài 78cm, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, mũi nhọn, đã qua sử dụng.
- - Đối với biển số 67K3-2862 sau khi trộm cắp xe bị can tháo ra vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng chưa thu hồi được.
* Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 95/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận:
- - 01 xe mô tô nhân hiệu FASHION, loại C110, màu đỏ, biển số 67K3-2862, mua mới và sử dụng từ năm 2003. Tại thời điểm định giá tháng 8/2024, trị giá 1.383.000 đồng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen, biển số 68P1-267.39, mua mới và sử dụng từ năm 2015. Tại thời điểm định giá tài sản tháng 7/2024, trị giá là 6.433.000 đồng.
- - Tổng giá trị tài sản mà Phù Minh Q chiếm đoạt là: 7.816.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 95/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Bản cáo trạng số 34/CT-VKSPQ ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Phù Minh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Phần tranh luận, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phù Minh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91 BLHS; Điều 100 BLHS; xử phạt bị cáo Phù Minh Q 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam: 600.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy: - 01 cây dao tự chế dài 78cm, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, mũi nhọn, đã qua sử dụng.
- Đối với 01 xe mô tô nhân hiệu FASHION, loại C110, màu đỏ, số máy: ZS152FMH0004331, số khung: VTLWCH032TL008031, được gắn biển số 64E1-03719, (đã qua sử dụng). 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, số máy: 5C6K197658, số khung: VC6K0FY197659, màu trắng đen, biển số 68P1-267.39, (đã qua sử dụng). 01 xe mô tô nhãn hiệu SWEAR, màu đỏ, biển số 60L2-5344 (đã qua sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại cho bị hại và chủ sở hữu, đề nghị HĐXX không xem xét.
- Đối với biển số 67K3-2862 sau khi trộm cắp xe bị cáo tháo ra vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng chưa thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm, anh Nguyễn Văn L đã nhận lại tiền và anh Nguyễn Cao T1 không yêu cầu bị cáo trả lại tiền đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Phù Minh Q trình bày quan điểm: Thống nhất với cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Phù Minh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người đúng tội, cần nghiêm trị bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung; Tuy nhiên bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo đã thật thà khai báo ăn năn hối cải, bị cáo phạm tôi lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, thiết nghĩ cũng cần thể hiện sự khoan hồng cho bị cáo xử phạt bị cáo mức án đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố, không tranh luận với đại diện viện kiểm sát và Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá chứng cứ: Do không có nghề nghiệp ổn định và cần tiền tiêu xài nên trong khoảng thời gian từ ngày 23/7/2024 đến ngày 15/8/2024, tại địa bàn xã C và xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Do không có tiền tiêu xài Phù Minh Q đã 02 lần lấy trộm 02 xe mô tô của anh Trần Văn S và Nguyễn Văn D1. Tổng giá trị tài sản mà Phù Minh Q chiếm đoạt là 7.816.000 đồng. Ngày 20/9/2024, Phù Minh Q bị Cơ quan điều tra – Công an thành phố P khởi tố.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Q đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình án ninh trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội đồng thời phòng ngứa trung đối với các loại tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị trộm đã giao trả cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam: 600.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế dài 78cm, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, mũi nhọn, đã qua sử dụng.:
- Đối với 01 xe mô tô nhân hiệu FASHION, loại C110, màu đỏ, số máy: ZS152FMH0004331, số khung: VTLWCH032TL008031, được gắn biển số 64E1-03719, (đã qua sử dụng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, số máy: 5C6K197658, số khung: VC6K0FY197659, màu trắng đen, biển số 68P1-267.39, (đã qua sử dụng); 01 xe mô tô nhãn hiệu SWEAR, màu đỏ, biển số 60L2-5344 (đã qua sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại cho bị hại và chủ sở hữu, HĐXX không xem xét.
- Đối với biển số 67K3-2862 sau khi trộm cắp xe bị cáo tháo ra vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng chưa thu hồi được.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm, anh Nguyễn Văn L đã nhận lại tiền và anh Nguyễn Cao T1 không yêu cầu bị cáo trả lại tiền, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Văn V (sinh ngày 07/9/2010) tại thời điểm phạm tội là 13 tuổi 10 tháng 16 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không xử lý, đã xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Cao T1 và ông Nguyễn Văn L khi mua xe mô tô của Phù Minh Q, không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không xử lý.
Đối với hành vi của ông Phù Văn M cho Q mượn xe mô tô, không biết Q sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên không xử lý.
[7] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Phù Minh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Phù Minh Q 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn cải tạo không giam gữ tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo về UBND xã C quản lý giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam: 600.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế dài 78cm, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, mũi nhọn, đã qua sử dụng.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo biên bản chuyển giao vật chứng ngày 07/02/2025 ).
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường, miễn xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Hồng Tâm |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm
