Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS-ST

Ngày 27-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc

Nơi công tác: Cán bộ hưu trí

Ông Nguyễn Văn Sĩ

Nơi công tác: Trường Trung học cơ sở Tràm Chim

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân

huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông,

tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:

37/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Võ Văn N, sinh năm 2002 tại tỉnh Đồng Tháp, tên gọi khác: Tám Be; nơi

cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình

độ học vấn: 4/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo:

không; con ông Võ Văn D, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1973;

chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: 02/3/2025; tạm giam:

05/3/2025; Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T và

có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Đặng Thị C, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Võ Văn H, sinh năm

1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

1. Lê Văn T, sinh ngày 25/02/2009 (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu T: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1983

(vắng mặt).

Cùng cư trú: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Phan Chế L, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Đại chỉ: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

3. Đặng Chí T2, sinh ngày 09/4/2011 (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu T2: Chị Đặng Thị C, sinh năm 1986

(mẹ ruột).

Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.4. Võ Hoàng A, sinh

năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 01/3/2025, Võ Văn N mượn xe mô tô biển số 66L8 –

0204 của Đặng Chí T2, chở Lê Văn T (anh em bà con) từ nhà tại ấp B, xã P đến

tiệm Đ thuộc khóm B thị trấn T, gặp anh Võ Hoàng A cầm điện thoại, sau đó vào

tiệm game chơi. Đến khoảng 16 giờ 20 phút, N điều khiển xe mô tô biển số 66L8 - 0204

trên đường V hướng về xã P. Do nợ tiền bên ngoài, N nhớ lúc nói chuyện điện

thoại hình thức Messenger với T2, thấy T2 cầm nhiều tiền của mẹ T2 là bà Đặng

Thị C nên nảy sinh ý định cướp tài sản của bà C. N điều khiển xe mô tô đến tiệm

bán sen ấu của bà C tại ấp T, xã P, giả vờ nói với bà C ngồi đợi T2 về. Sau đó N

đi vào nhà vệ sinh, lấy 01 con dao, loại dao Thái Lan để trên bếp đối diện nhà vệ

sinh, bỏ vào túi áo khoác bên trong, đi ra ngoài nói với bà C trong nhà vệ sinh có

rơi giấy tờ. Bà C đi vào xem, N dùng dao kề vào cổ khống chế, đẩy bà C vào nhà

vệ sinh, lục soát trong người, lấy 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y16 và tiền

(không rõ số lượng). N tiếp tục đi ra ngoài tìm cái ví đựng tiền nhưng không thấy

nên quay trở lại, lấy cây kéo để trên bàn bếp, tiếp tục khống chế bà C, hỏi chỗ để

cái ví đựng tiền. Bà C nói để ngoài võng phía trước, N lấy áo khoác có sẵn trong

nhà vệ sinh bịt miệng bà C, dùng áo khoác bà C đang mặc kéo từ sau trùm lên

đầu. N đi ra ngoài tìm được cái ví, lấy tiền (không rõ số lượng) bên trong, điều

khiển xe nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó, N gặp Lê Văn T nói đi cầm dùm điện

thoại, T đến tiệm Đ, gặp Võ Hoàng A cầm điện thoại được số tiền 700.000 đồng.

Thiệt đưa tiền lại cho N, có tiền N dùng để trả nợ, tiêu xài cá nhân.

Biết bị Công an phát hiện, N đưa cho T số tiền 1.020.000 đồng để chuộc

lại điện thoại. Do không đủ tiền, T chỉ chuộc lại điện thoại của T, còn lại 470.000

đồng. Võ Văn H (anh ruột N) biết vụ việc, đến chuộc lại điện thoại di động hiệu

Vivo Y16, giao nộp Công an. Đến 21 giờ ngày 01/3/2025, Võ Văn N đến Công

an xã P đầu thú.

Tại cơ quan điều tra, Võ Văn N thừa nhận hành vi cướp tài sản, lúc cướp

không có đếm tiền, sau khi bị bắt N xác định cướp của bà C tổng số tiền

1.233.000 đồng, bà C thống nhất theo số tiền trên. Khi N cướp tài sản không gây

thương tích cho bà C.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô loại xe wave (không nhãn hiệu, lốc

máy có hiệu HONDA), màu sơn đỏ, không bửng, biển số 66L8 – 2040; Tiền Việt

Nam: 1.298.000 đồng, trong đó thu của Võ Văn N số tiền 828.000 đồng, thu của

Lê Văn T số tiền 470.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO Y16,

màu đen, số IMEI 8657 1706 3066 701 (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác nữ

bằng len màu trắng đen, phía dưới cổ áo có nhãn hiệu CARTELO (đã qua sử

dụng); 01 (một) cái bóp đeo chéo màu đen, trên bóp có hiệu JIELSHI (đã qua sử

dụng); 01 (một) cây kéo bằng kim loại (loại kéo làm cá), phần cán được bọc

nhựa màu đen.

Đối với con dao, bị cáo Võ Văn N dùng để đe dọa bà Đặng Thị C, đã ném

dao phía sau quầy bán ấu của bà C, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không

được, đã cho Võ Văn N, Đặng Thị C nhận dạng vật tương tự.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-ĐGTS ngày 17 tháng 3 năm 2025

của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng huyện T, kết luận: Một

điện thoại di động hiệu Vivo Y16, màu đen, tài sản đã qua sử dụng, giá trị định

giá là 1.167.000 đồng.

Về dân sự: Bị hại Đặng Thị C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi

thường con dao bị mất, không yêu cầu bồi thường dân sự, có đơn xin giảm nhẹ

hình phạt đối với bị can.

Đối với số tiền 700.000 đồng của Võ Văn H chuộc lại điện thoại di động

hiệu Vivo Y16, anh H không yêu cầu Võ Văn N trả lại.

Tại Cáo trạng số: 43/CT-VKSTN ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Viện

kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức P về tội

“Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh

Đồng Tháp vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Võ Văn N về tội “Cướp tài

sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đánh giá về

hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm, tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng

xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1

Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội

“Cướp tài sản”, xử phạt bị cáo N với mức hình phạt từ 05 năm đến 06 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại các tài sản xong, không yêu cầu

bồi thường thiệt hại về tài sản nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ

01 xe mô tô loại xe wave (không nhãn hiệu, lốc máy có hiệu HONDA), màu sơn

đỏ, không bửng, biển số 66L8-2040 xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Văn T, Võ Hoàng A không biết N cướp tài sản có được điện

thoại Vivo Y16 và tiền để cầm, chuộc điện thoại nên không đủ căn cứ xem xét

xử lý hành vi của T, Hoàng A.

Bị cáo không khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng, thống nhất kết quả định giá tài sản và thừa nhận toàn bộ

hành vi phạm tội “Cướp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội

của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng, bị cáo biết lỗi, ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử xem

xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa đổi bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T,

Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá

trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được

quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên

tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố

tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ

quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Toà án đã triệu tập hợp lệ các đương sự đến tham gia phiên toà, nhưng

bị hại Chiều vắng mặt có lý do; riêng H, T, anh T1 là người đại diện hợp pháp

của T, L, T2, Anh vắng mặt không lý do. Quá trình điều tra, tất cả đương sự vắng

mặt nêu trên đã có lời khai được lưu vào trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của

bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh

hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt

bị hại, người liên quan và người làm chứng, người đại diện hợp pháp của người

làm chứng theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo

tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản khám

nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh cùng ngày 02/3/2025 của Cơ

quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đ; Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-

ĐGTS, ngày 17/3/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố

tụng hình sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Lời khai bị hại, người liên quan và người

làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 01/3/2025, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân,

trả nợ, bị cáo Võ Văn N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà C. Vì vậy, bị

cáo N điều khiển xe mô tô biển số 66L8-2040 đến tiệm bán sen ấu của bà C tại

ấp T, xã P, huyện T, lấy 01 con dao Thái Lan kề dao vào cổ và dùng kéo khống

chế bà C, lấy áo khoác bịt miệng và dùng áo khoác trùm lên đầu bà C chiếm đoạt

01 điện thoại di động hiệu Vivo Y16 trị giá 1.167.000 đồng và số tiền 1.233.000

đồng, rồi điều khiển xe nhanh chóng tẩu thoát, tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt

2.400.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số: 43/CT-VKSTN ngày 12 tháng 6 năm 2025

của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo Võ Văn N về tội

“Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là

có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo sử dụng dao, kéo

khống chế, dùng áo khoác bịt miệng, trùm đầu bị hại, chiếm đoạt tài sản của bị

hại một cách trái pháp luật rồi nhanh chóng tẩu thoát, làm ảnh hưởng đến tình

hình an ninh trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm

hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Xét hành vi phạm tội,

tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo cần áp dụng mức hình phạt nghiêm để có

đủ thời gian giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa

chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải; tác động đến anh ruột bồi thường thiệt hại cho bị hại xong; bị cáo

phạm tội lần đầu, đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và có ông cố

ngoại là liệt sĩ Nguyễn Văn S. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản

1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi bị phát hiện có tích cực nhờ Thiệt

chuộc lại điện thoại, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, khi bị

cáo thực hiện hành vi không mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho bị

hại và nhất thời phạm tội nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự

áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo

dục bị cáo.

[5] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị

cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ

sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi

thường thiệt hại về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 700.000 đồng của Võ Văn H chuộc lại điện thoại di động

hiệu Vivo Y16, không yêu cầu bị cáo Võ Văn N trả lại nên không xem xét giải

quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô loại xe wave (không nhãn hiệu, lốc máy có hiệu

HONDA), màu sơn đỏ, không bửng, biển số 66L8 - 2040. Quá trình điều tra, xác

minh đã xác định xe mô tô trên do Mạc Thị Bé H1, địa chỉ 595, ấp T, xã P, huyện

L, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu xe, hiện nay không có mặt địa phương.

Bà C khai mua của một người phụ nữ, không rõ họ tên địa chỉ cụ thể, mua ở

khóm B, thị trấn T, không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Xét thấy, cơ quan

Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với Bé H1 nên Hội đồng xét xử giao cơ

quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ quản lý, làm rõ chủ sở hữu xe mô tô để xử

lý theo quy định pháp luật.

Tiền Việt Nam: 1.298.000 đồng, trong đó thu của Võ Văn N số tiền

828.000 đồng, thu của Lê Văn T số tiền 470.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra

Công an tỉnh Đ đã trả lại cho Đặng Thị C số tiền 1.233.000 đồng, trả cho bị can

N số tiền 65.000 đồng xong nên Hội đồng xử xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO Y16, màu đen, số IMEI

8657 1706 3066 701 (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác nữ bằng len màu trắng

đen, phía dưới cổ áo có nhãn hiệu CARTELO (đã qua sử dụng); 01 (một) cái bóp

đeo chéo màu đen, trên bóp có hiệu JIELSHI (đã qua sử dụng); 01 (một) cây kéo

bằng kim loại (loại kéo làm cá), phần cán được bọc nhựa màu đen là tài sản của

bà C và bà C đã nhận lại xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với con dao, bị cáo Võ Văn N dùng để đe dọa bà Đặng Thị C, đã ném

dao phía sau quầy bán ấu của bà C, cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng

không thu hồi được nên không xem xét.

[8] Đối với Lê Văn T và Võ Hoàng A: Anh T, Hoàng A khai trong quá

trình điều tra không hỏi bị cáo và bị cáo cũng không nói cho T, Hoàng A biết

điện thoại VIVO Y16 và tiền bị cáo N đưa cho T do bị cáo cướp được mà có. Tại

phiên tòa bị cáo N khai phù hợp với lời khai của anh T và Hoàng A tại cơ quan

Cảnh sát điều tra nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét xử lý T, Hoàng

A về vai trò đồng phạm với bị cáo N hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm

tội mà có.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại

phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại

khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của

Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1
  2. Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Cướp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Võ Văn N 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt

    tù tính từ ngày 02/3/2025.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  4. Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh làm rõ

    và xử lý theo quy định pháp luật: 01 (một) xe mô tô loại xe wave (không nhãn

    hiệu, lốc máy có hiệu HONDA), màu sơn đỏ, không bửng, biển số 66L8 – 2040.

    (Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh

    Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/6/2025).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và
  6. điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

    của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

    quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Võ Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án

    phí hình sự sơ thẩm.

  7. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong
  8. thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa

    vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

    nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng

    hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - CQ CSĐT CA tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phân trại tạm giam khu vực H. Tam Nông;
  • - CCTHADS H. Tam Nông;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Huỳnh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về cướp tài sản

  • Số bản án: 39/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cướp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger