|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày 27-05-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Thẩm phán tham gia: Ông Nguyễn Thế Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Vũ Xuân Mai
2/ Bà Đỗ Thị Hà
3/ Bà Phạm Thị Hường
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Hiếu - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Lan- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 04 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 04 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Phàng A T (Tên gọi khác: Phàng C), sinh năm 1990 tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phàng A D, sinh năm 1966 và bà Giàng Thị C, sinh năm 1972; có vợ là Vàng Thị S, sinh năm 1996 (là bị cáo trong cùng vụ án) và 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-6-2024; có mặt.
- Vàng Thị S, sinh năm 1994 tại tỉnh Tuyên Quang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn 05/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Văn N (đã chết) và bà Đào Thị S1, sinh năm 1966; có chồng là Phàng A (là bị cáo trong cùng vụ án), có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2024); tiền án, tiền sự: Không, Bị cáo được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt.
- Chìu Nhật T2, sinh năm 1998 tại tỉnh Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm Nông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chìu Vòong S2 và bà Đinh Thị H (Đều đã chết); có vợ là Lâm Thị N1, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-6-2024; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phàng A T và Vàng Thị S:
- - Ông Y trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý thuộc Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông, có mặt.
- - Ông Hoàng Ngọc T1 trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý thuộc Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số A, đường C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn X – Vắng mặt. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 21-6-2024, Phàng A đi tìm việc làm tại xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi đến chợ B, xã N, huyện B thì T gặp đối tượng tên Q (chưa xác định được nhân thân) đang đi cùng đối tượng M (chưa xác định được nhân thân). Qua trao đổi, đối tượng tên M đã bán cho T 01 bánh ma túy với giá 80.000.000 đồng để T mang về bán lại cho những đối tượng khác, hưởng chênh lệch, T đồng ý và trả trước cho M 30.000.000 đồng còn lại 50.000.000 đồng T sẽ trả vào tháng 8-2024. Sau Khi nhận ma túy từ M thì T mang về nhà và nói cho vợ là Vàng Thị S biết, khoảng 8 giờ ngày 22-6-2024, T lấy bánh ma túy ra chia thành những gói nhỏ (mục đích để bán lại cho những đối tượng nghiện ma túy kiếm lời) rồi để một phần trong chiếc túi vải màu đen và thường xuyên thay đổi vị trí cất dấu trong nhà, một phần ma túy đặt dưới nệm giường ngủ cho Sầu ở nhà bán cho những đối tượng có nhu cầu với giá một gói từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Khoảng 8 giờ ngày 28-6-2024 T đi đến bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông để sửa xe mô tô, trước khi đi, T lấy 01 gói ma túy ra đưa cho S để ở nhà nếu có người đến mua thì bán với giá 200.000 đồng. S đồng ý và cất gói ma túy giấu dưới nệm trong phòng ngủ. Khoảng 9 giờ cùng ngày, Chìu Nhật T2 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 48B - 658.97 đến gặp S hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì S lấy gói ma túy đưa cho T2, khi T2 đã cầm được gói ma túy và chuẩn bị trả tiền cho S thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Ngay lập tức, T2 vứt gói ma túy xuống nền gạch. Cùng lúc này T về đến nhà, phát hiện được có lực lượng Công an nên đã chạy đến nơi cất giấu chiếc túi vải màu đen có chứa ma túy ném sang bên cạnh nhà của ông Hạng Sao C1, bà Sùng Thị V nhưng bà V đã phát hiện được nên nhặt chiếc túi chứa ma túy của T, treo lại vào hàng rào lưới B40, phía sau nhà của T.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu giữ: 01 gói nilon màu vàng đã được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất rắn dạng bột màu trắng (nghi là ma túy); số tiền: 340.000 đồng (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 xe mô tô, BKS: 48B1-658.97. Qua khám xét nhà ở của Phàng A và Vàng Thị S thu giữ: 08 gói nilon màu trắng, được buộc kín, bên trong có các gói nilon đều chứa chất rắn dạng bột màu trắng (nghi là ma túy); 01 chiếc tất màu vàng, sọc xanh, bên trong có chứa 20 gói nilon, được dán kín, có chứa các chất rắn dạng bột màu trắng (nghi là ma túy); 01 chiếc cân tự chế; số tiền: 145.300.000 đồng; 01 khẩu súng hơi màu đen và một số vật dụng.
Tại Kết luận giám định số: 306/KL-KTHS ngày 01-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận):
- - Chất rắn màu trắng đựng trong 01 (một) gói nilon màu vàng hàn kín được niêm phong trong bì thư có ghi “Mà túy bắt quả tang mua bán” gửi giám định là ma túy; loai Heroine, có khối lượng mẫu là 0,5217 gam.
- - Chất rắn màu trắng dựng trong 11 (mười một) gói nilon màu vàng được niêm phong trong bì thư có ghi “20 (hai mươi) gói nilon thu giữ tại túi vải màu đen trong quá trình khám xét được đựng trong chiếc tất màu vàng, sọc xanh” gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine, có tổng khối lượng mẫu là 20,6076 gam.
- - Chất rắn màu trắng dựng trong 09 (chín) gói nilon màu xanh được niêm phong trong bì thư có ghi “20 (hai mươi) gói nilon thu giữ tại túi vải màu đen trong quá trình khám xét được đựng trong chiếc tất màu vàng, sọc xanh” gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine, có tổng khối lượng mẫu là 7,0730 gam.
- - Chất rắn màu trắng đựng trong 08 (tám) gói nilon màu trắng buộc kín được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine, có tổng khối lượng mẫu là 307,98 gam.
Tại Bản kết luận giám định số 404/KL-KTHS ngày 29-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là súng hơi PCP, thuộc nhóm súng săn, không phải vũ khí quân dụng.
Tại cáo trạng số 36/CT-VKSĐN-P1 ngày 16-04-2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố các bị cáo: Phàng A T và Vàng Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Chìu Nhật Trường về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 39 của BLHS, xử phạt tù chung thân đối với bị cáo Phàng A T; Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS, xử phạt bị cáo Vàng Thị S 20 năm tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Chìu Nhật T2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Chấp nhận việc cơ quan CSĐT công an tỉnh Đ ra quyết định xử lý tài sản số 1371, trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiện Honda, loại Wave, biển số: 48B1-658.97, số khung RLHJA3927MY143994, số máy: JA39E2261051 cho ông Phạm Văn X;
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu vàng hàn kín được niêm phong trong bì thư có ghi “Ma túy bắt quả tang mua bán” hoàn lại có khối lượng mẫu là 0,4919 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (4x6)cm;
- + Chất rắn màu trắng đựng trong 11 gói nilon màu vàng được niêm phong trong bì thư có ghi “20 (hai mươi) gói nilon thu giữ tại túi vải màu đen trong quả trình khám xét được đựng trong chiếc tất màu vàng, sọc xanh” hoàn lại có khối lượng mẫu là 20,3838 gam, chất rắn màu trắng trên được dựng trong gói zipper kích thước (7x10)cm và ghi Vàng; Chất rắn màu trắng đựng trong 09 (chín) gói nilon màu xanh được niêm phong trong bì thư có ghi “20 (hai mươi) gói nilon thu giữ tại túi vài màu đen trong quá trình khám xét được đựng trong chiếc tất màu vàng, sọc xanh” hoàn lại có khối lượng mẫu là 6,9746 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (7x10)cm và ghi Xanh;
- + Chất rắn màu trắng đựng trong 08 (tám) gói nilon màu trắng buộc kín được niêm phong trong hộp giấy hoàn lại có khối lượng mẫu là 306,79 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (15x25)cm ;
- + 01 túi vải màu đen có dây đeo; 01 chiếc tất màu vàng sọc xanh; 01 túi nilon màu trắng có chứa 06 miếng nilon có cùng kích thước tương đương nhau, trong đó có 02 miếng nilon màu vàng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các mảnh vụn nilon có nhiều kích thước khác nhau.
- + 01 cân tự chế có tay cầm bằng nhựa, đĩa cân làm bằng kim loại. Chiếc cân được bọc trong một khẩu trang màu trắng.
- + 01 khẩu súng hơi màu đen.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, số MEI 1: 868595040835613, IMEI 2: 868595040835605; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, số IMEI 1: 352469855544152, IMEI 2: 357132375544152; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung, số IMEI: 357800/55/039180/1.
Trả lại cho các bị cáo Phàng A và Vàng Thị S 145.640.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng); Trả lại cho bị cáo Chìu Nhật T2 140.000 đồng.
Truy thu của bị cáo Chìu Nhật T2 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Người bào chữa cho các bị cáo Phàng A T và Vàng Thị S trình bày quan điểm bào chữa: Đồng ý với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo; Đề nghị HĐXX xem xét thêm cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế; các bị cáo cư trú tại vùng đặc biệt khó khăn; chưa gây thiệt hại lớn; bị cáo Vàng Thị S đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà đại viện Viện kiểm sát đã đề nghị ở khoản 1 Điều 51 của BLHS, cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 167 của BLHS, xử phạt các bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất có thể và cho bị cáo Vàng Thị S được hoãn thi hành án.
Các bị cáo Phàng A T và Vàng Thị S đồng ý với quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Chìu Nhật T2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo Phàng A và Vàng Thị S, Chìu Nhật T2 và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21-6-2024, Phàng A có hành vi mua 336,1823 gam Heroine của một đối tượng chưa xác định nhân thân ở tỉnh Bình Phước với giá 80.000.000 đồng (trả trước 30.000.000 đồng) mang về nhà cùng với vợ là Vàng Thị S chia nhỏ, lẻ Heroine thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho những đối tượng nghiện ma túy. Các bị cáo T, S đã 02 lần bán Heroine cho bị cáo Chìu Nhật T2 sử dụng. Đến khoảng 10 giờ ngày 28-6-2024, tại Bản N, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Khi Vàng Thị S bán cho Chìu Nhật T2 0,5217 gam Heroine với giá 200.000 đồng với mục đích đề T2 tiếp tục sử dụng, thì bị lực lượng Công an huyện T đã phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Phàng A T và Vàng Thị S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của Chìu Nhật T2 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố các bị cáo Phàng A T, Vàng Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của BLHS; truy tố bị cáo Chìu Nhật T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù 02 năm đến 07 năm:
...
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
...
b) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;
...”
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích. mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XIR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam:
...”
[3]. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo Phàng A, Vàng Thị S là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Chìu Nhật T2 là nghiêm trọng; đã xâm phạm đến chế độ quản lí độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Hiện nay loại tội phạm về ma tuý đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả mà các bị cáo gây ra.
Giữa các bị cáo Phàng A và Vàng Thị S có sự phân công trong quá trình mua bán ma túy trong đó, bị cáo T là người chủ mưu, trực tiếp liên hệ với các đối tượng để mua ma túy với số lượng lớn, mang về chia nhỏ để bán kiếm lời. Khi có người mua liên hệ thì bị cáo T giao cho bị cáo S bán với mệnh giá 200.000 đồng. Trong vụ án này, bị cáo T có vai trò cao nhất, do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo S biết T mua ma túy về bán kiếm lời, tham gia vai trò giúp sức cho T bán ma túy cho người khác. Xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Vàng Thị S là nhẹ hơn bị cáo Phàng A T nên cần xử phạt bị cáo Vàng Thị S mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt của bị cáo Phàng A T, tuy nhiên, cũng cần cách ly bị cáo Vàng Thị S ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài.
Đối với hành vi phạm tội của Chìu Nhật T2 là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nhưng vì mục đích để thỏa mãn cơn nghiện và ý thức coi thưởng pháp luật bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải bị xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phàng A T và Vàng Thị S phạm tội 02 lần trở lên, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ giảm trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Vàng Thị S đang mang thai nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên Hội Đồng xét xử chấp nhận;
Xét luận cứ bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo Phàng A T và Vàng Thị S về tội danh, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ là có căn cứ nên HĐXX xét xử xem xét. Riêng đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51; Điều 54 của BLHS là không có căn cứ nên HĐXX không chấp nhận. Đối với việc đề nghị áp dụng Điều 67 của BLHS đối với bị cáo Vàng Thị S về xem xét cho bị cáo Vàng Thị Sầu H1 Thi hành án, HĐXX không giải quyết trong bản án này mà sau khi bản án có hiệu lực sẽ được xem xét theo Luật Thi hành án hình sự.
[6]. Về xử lý vật chứng: Việc cơ quan CSĐT công an tỉnh Đ ra quyết định xử lý tài sản số 1371, trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiện Honda, loại Wave, biển số: 48B1-658.97, số khung RLHJA3927MY143994, số máy: JA39E2261051 cho ông Phạm Văn X là phù hợp nên chấp nhận;
Đối với chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu vàng hàn kín được niêm phong trong bì thư có ghi “Ma túy bắt quả tang mua bán” hoàn lại có khối lượng mẫu là 0,4919 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (4x6)cm; Chất rắn màu trắng đựng trong 11 gói nilon màu vàng được niêm phong trong bì thư có ghi “20 (hai mươi) gói nilon thu giữ tại túi vải màu đen trong quả trình khám xét được đựng trong chiếc tất màu vàng, sọc xanh” hoàn lại có khối lượng mẫu là 20,3838 gam, chất rắn màu trắng trên được dựng trong gói zipper kích thước (7x10)cm và ghi Vàng; Chất rắn màu trắng đựng trong 09 (chín) gói nilon màu xanh được niêm phong trong bì thư có ghi “20 (hai mươi) gói nilon thu giữ tại túi vài màu đen trong quá trình khám xét được đựng trong chiếc tất màu vàng, sọc xanh” hoàn lại có khối lượng mẫu là 6,9746 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (7x10)cm và ghi Xanh; Chất rắn màu trắng đựng trong 08 (tám) gói nilon màu trắng buộc kín được niêm phong trong hộp giấy hoàn lại có khối lượng mẫu là 306,79 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (15x25)cm là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 túi vải màu đen có dây đeo; 01 chiếc tất màu vàng sọc xanh; 01 túi nilon màu trắng có chứa 06 miếng nilon có cùng kích thước tương đương nhau, trong đó có 02 miếng nilon màu vàng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các mảnh vụn nilon có nhiều kích thước khác nhau; 01 cân tự chế có tay cầm bằng nhựa, đĩa cân làm bằng kim loại. Chiếc cân được bọc trong một khẩu trang màu trắng; 01khẩu súng hơi màu đen là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, số MEI 1: 868595040835613, IMEI 2: 868595040835605; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, số IMEI 1: 352469855544152, IMEI 2: 357132375544152; 01 (Một) điện thoại di động hiệu S3, số IMEI: 357800/55/039180/1 là phương tiện công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 145.640.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo Phàng A T và Vàng Thị S, 140.000 đồng (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Chìu Nhật T2 đây là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) mà bị cáo Chìu Nhật T2 mua ma túy, bị cáo chưa kịp giao tiền cho bị cáo T nên cần truy thu bị cáo T2 số tiền này để sung công quỹ nhà nước.
[7]. Trong vụ án này còn có một số nội dung có liên quan xử lý như sau:
- - Quá trình điều tra, bị cáo Phàng A T khai báo số ma túy do bị cáo tàng trữ để bán trái phép là do bị cáo mua của đối tượng tên là M. Cơ quan CSĐT đã áp dụng đầy đủ các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật, nhưng chưa chứng minh được nhân thân lý lịch của đối tượng tên M. Thời hạn điều tra vụ án đã hết, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục kiểm tra, xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp nên chấp nhận.
- - Đối với hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng hơi PCP, thuộc nhóm súng săn của bị cáo Phàng A T, kết quả điều tra đã chứng minh được Phàng A T không có tiền án, tiền sự về hành vi này nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự bị cáo theo Điều 306 Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển hành vi này của T đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để xử lý hành chính là phù hợp nên chấp nhận.
- - Ngoài ra, bị cáo Phàng A T thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi của bị cáo Phàng A T đã được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ ban hành Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh là phù hợp nên chấp nhận.
[8]. Về án phí: Các bị cáo Phàng A T, Vàng Thị S và Chìu N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Phàng A T và Vàng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chấy ma túy”; Bị cáo Chìu Nhật T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Phàng A T tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28-6-2024).
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Vàng Thị S 20 (Hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án (được khấu trừ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-6-2024 đến ngày 03-7-2024).
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Chìu Nhật T2 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28-6-2024).
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật Hình sự,
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận ngày 18-9-2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý tài sản số A, trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 48B1-658.97, số khung: RLHJA3927MY143994, số máy: JA39E2261051 cho ông Phạm Văn X (SN: 1994, HKTT: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) là chủ sở hữu hợp pháp.
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu vàng hàn kín được niêm phong trong bì thư có ghi “Ma túy bắt quả tang mua bán” hoàn lại có khối lượng mẫu là 0,4919 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (4x6)cm;
- + Chất rắn màu trắng đựng trong 11 gói nilon màu vàng được niêm phong trong bì thư có ghi “20 (hai mươi) gói nilon thu giữ tại túi vải màu đen trong quả trình khám xét được đựng trong chiếc tất màu vàng, sọc xanh” hoàn lại có khối lượng mẫu là 20,3838 gam, chất rắn màu trắng trên được dựng trong gói zipper kích thước (7x10)cm và ghi Vàng; Chất rắn màu trắng đựng trong 09 (chín) gói nilon màu xanh được niêm phong trong bì thư có ghi “20 (hai mươi) gói nilon thu giữ tại túi vài màu đen trong quá trình khám xét được đựng trong chiếc tất màu vàng, sọc xanh” hoàn lại có khối lượng mẫu là 6,9746 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (7x10)cm và ghi Xanh;
- + Chất rắn màu trắng đựng trong 08 (tám) gói nilon màu trắng buộc kín được niêm phong trong hộp giấy hoàn lại có khối lượng mẫu là 306,79 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong gói zipper kích thước (15x25)cm ;
- + 01 túi vải màu đen có dây đeo; 01 chiếc tất màu vàng sọc xanh; 01 túi nilon màu trắng có chứa 06 miếng nilon có cùng kích thước tương đương nhau, trong đó có 02 miếng nilon màu vàng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các mảnh vụn nilon có nhiều kích thước khác nhau.
- + 01 cân tự chế có tay cầm bằng nhựa, đĩa cân làm bằng kim loại. Chiếc cân được bọc trong một khẩu trang màu trắng.
- + 01 khẩu súng hơi màu đen.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, số MEI 1: 868595040835613, IMEI 2: 868595040835605; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, số IMEI 1: 352469855544152, IMEI 2: 357132375544152; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung, số IMEI: 357800/55/039180/1.
Trả lại cho các bị cáo Phàng A và Vàng Thị S 145.640.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng); Trả lại cho bị cáo Chìu Nhật T2 140.000 đồng (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) (Theo Ủy nhiệm chi số 023 lập ngày ngày 21-10-2024 nộp vào tài khoản của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông tại Kho bạc nhà nước tỉnh Đ).
Truy thu của bị cáo Chìu Nhật T2 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông ngày 16-10-2024).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc Phàng A T, Vàng Thị S và Chìu N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về vụ án hình sự
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phàng A T + 2 bc phạm tội ""Mua bán trái phép chất ma túy
