TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày 25/03/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hùng.
2. Ông Trần Hữu Lượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Liễu Văn H, sinh ngày: 04/01/1995 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Sán dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Liễu Văn T, sinh năm: 1975; Con bà: Tạ Thị B, sinh năm: 1976; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Minh K, sinh năm: 2001 (đã ly hôn); Con: không có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
Bị cáo: Vũ Thị P, sinh ngày: 11/5/1981 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Vũ Văn L (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1945; Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là thứ tư; Chồng: Tạ Hùng M, sinh năm 1981; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2024 đến ngày 11/02/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh (Có mặt).
Bị cáo: Hoàng Văn C, sinh ngày: 26/01/1995 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Văn H1, sinh năm: 1970; Con bà: Hứa Thị M1, sinh năm: 1971; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: không có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Dương Văn N, sinh năm 2001, nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Chị Quàng Thị H2, sinh năm 2006, nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Chị Mò Thị Đ, sinh năm 2004, nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La.
Anh Ôn Cát L2, sinh năm 1993, nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Chị Vàng Thị T1, sinh năm 2004, nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu.
(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau
Năm 2022, Vũ Thị P cư trú tại thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang mở quán “Karaoke 9999” kinh doanh Karaoke tại nhà. Để thu hút khách đến hát Karaoke, từ khoảng tháng 5/2024, P đã tuyển 04 nữ nhân viên gồm: Quàng Thị H2, ở Bản P, xã M, huyện T; Lù Thị H3, ở Bản H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Mò Thị Đ, ở Bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La và Phùng Mùi L3 ở thôn B, xã T, thị xã S, tỉnh Lào Cai làm nhân viên nữ phục vụ khách hát với chi phí 200.000 đồng/01 giờ hát (P trả cho nhân viên phục vụ 120.000 đồng/01 giờ hát và nuôi ăn ở).
Ngày 02/6/2024, P thuê Liễu Văn H (là cháu ruột chồng P), cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang trông coi, quản lý quán hát, P trả công cho H 6.000.000 đồng/tháng với thoả thuận trong quá trình quản lý quán hát nếu khách hát và nhân viên thoả thuận mua, bán dâm thì phải được sự đồng ý của P hoặc Hoàng giá mỗi lần bán dâm là 500.000 đồng trả cho nhân viên. Đến ngày 02/8/2024 H nghỉ việc tại quán.
Trong các ngày 07/9 và ngày 14/9/2024 H và P đã thực hiện hành vi môi giới mại dâm. Ngày 16 và ngày 17/9/2024 H cùng Hoàng Văn C cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện S thực hiện hành vi đánh bạc trên không gian mạng, cụ thể:
1. Hành vi môi giới mại dâm:
1.1. Hành vi môi giới mại dâm của Liễu Văn H.
Ngày 05/9/2024 H được P nhờ trông coi, quản lý quán Karaoke trong thời gian P đi M (đi từ ngày 05 đến ngày 09/9/2024) H đồng ý. Tối ngày 06/9/2024, H đang ở quán thì có Dương Văn N và Hoàng Quốc T2 đều ở thôn N, xã N, huyện S đến hát karaoke. H bố trí 01 phòng hát cho N và T2 và sắp xếp cho Quàng Thị H2 và Lù Thị H3 phục vụ rót bia, bấm bài hát. Khoảng 03 giờ ngày 07/9/2024, N nảy sinh ý định mua dâm H2 nên ra gặp và bảo H cho H2 đi chơi với N (ý là đi bán dâm cho N), H đồng ý và bảo H2 đi bán dâm cho N. Sau đó, N lấy xe mô tô chở H2 đến nhà nghỉ Đ1, thuộc xã T, huyện S, còn T3 và H3 vẫn ngồi hát tại phòng. Khi đến nhà nghỉ Đ1, N gặp Lý Thị L4 (chủ nhà nghỉ) hỏi thuê phòng, L4 kiểm tra Căn cước công dân của N, rồi đưa chìa khoá và bảo N vào phòng 204 tầng 2 của nhà nghỉ. N cùng H2 vào Phòng 204, sau đó N và H2 đã thực hiện hành vi mua bán, dâm. Sau khi thực hiện hành vi N trả tiền phòng và đưa H2 về quán Karaoke 9999, lúc này T2 và H3 vẫn đang hát. N gặp H thanh toán tiền hát, tiền đồ ăn, tiền nhân viên phục vụ và tiền mua dâm của H2 cho H hết tổng số tiền 4.250.000 đồng (trong đó có 500.000 đồng là tiền N mua dâm H2). N sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 55678906032001 chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng M2 số 674519 của H. Sau đó H đã đưa cho H2 500.000 đồng thanh toán chi phí (mua bia, thức ăn hàng ngày) 1.700.000 đồng, chuyển cho P 2.050.000 đồng. Quá trình bố trí để H2 bán dâm cho N, H không trao đổi, thông báo với P).
1.2. Hành vi môi giới mại dâm của Vũ Thị P.
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 14/9/2024, P đang ở quán thì có Dương Văn N cùng Ôn Cát L2 ở thôn N, xã N, huyện S đến hát, P bố trí cho N và L2 hát tại phòng số 02 của quán. Do thiếu nhân viên phục vụ, P gọi điện thoại cho Tổ Thị G ở thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (chủ quán karaoke “Hai mùa hoa nở”) để mượn 01 nữ nhân viên. G bảo Vàng Thị T1 ở Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu sang phục vụ cho quán của P. P đã sắp xếp cho T1 và Mò Thị Đ phục vụ rót bia, bấm bài hát cho N và L2. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/9/2024, N, L2 nghỉ hát và ra gặp P để thanh toán thì N hỏi P muốn mua dâm với Đ; L2 hỏi P muốn mua dâm với T1, P đồng ý. N chuyển 3.400.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M2 số 55678906032001 của N đến tài khoản Ngân hàng M2 số 6636666456789 của P (trong đó: 2.900.000 đồng tiền hát, 500.000 đồng là tiền mua dâm Đoàn); L2 chuyển 500.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng M2 số 0366678355 của L2 đến tài khoản của P để mua dâm T1. Sau khi nhận tiền, P bảo Đ “Con đi chơi với khách đi” ý là đi bán dâm cho khách, Đ nói “hôm nay con đến tháng” (kị kinh nguyệt), P nói là “con cứ đi chơi đi, có nhận tiền của khách rồi”, sau đó T1 và Đ đồng ý đi bán dâm cho N và L2. P lấy một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng đưa cho T1 (do T1 là nhân viên của quán khác nên P trả tiền luôn), còn Đ khi nào bán dâm về P sẽ trả tiền sau. Sau đó, Đ và T1 đi chung 01 xe mô tô, L2 và N đi chung một xe mô tô đến nhà trọ B1 ở thôn Q, xã S, huyện S để thuê phòng mua, bán dâm. Khi đến nơi, chủ nhà trọ là chị Lưu Thị H4, trú tại thôn Q, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã bố trí cho N và Đ nghỉ tại phòng thứ 2 phía bên phải, còn L2 và T1 nghỉ tại phòng thứ 2 phía bên trái (theo hướng từ cầu thang đi lên). Tại phòng nghỉ, khi N và Đ; L2 và T1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Tổ công tác của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T phát hiện, lập biên bản thu giữ: 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su (tại phòng của L2 và T1).
2. Hành vi đánh bạc của Liễu Văn H và Hoàng Văn C.
Tối ngày 16/9/2024, H cùng C, đến quán Internet ở khu vực C Trường THCS S2, thuộc xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để chơi game. Quá trình chơi, H vào trang Wed có địa chỉ https://web.sunwin (cổng game đổi thưởng Sunwin) tài khoản có tên đăng nhập là “mocmoc569”, mật khẩu “hoang@1234” để tham gia đánh bạc. Hình thức chơi, đặt cược như sau: Trò chơi “Tài xỉu” là hình thức cá cược dựa vào việc đặt cược tổng số điểm của 03 quân xúc sắc trong trò chơi, “Tài” là khi tổng số điểm từ 11 đến 18 điểm, còn “Xỉu” là tổng số điểm từ 03 đến 10 điểm. Có thể đặt cược số tiền mệnh giá từ 1.000 đồng (1K) tới 50.000.000 đồng (50M) hoặc đặt hết số tiền còn lại, nếu thắng sẽ được thêm 98% tiền cược, thua thì mất (ví dụ chơi 100.000 đồng nếu thắng thì được 98.000 đồng). Trò chơi “Xóc đĩa tứ linh” và “Xóc đĩa livestream là hình thức đặt cược chẵn – lẻ dựa dựa trên các mặt trắng, đỏ của quân “Vị” trong ứng dụng trò chơi và có thể chọn các bảng gồm Hoàng Kim L5 (trong trò chơi viết tắt là bàn HKL), Phong Bạch H5; Hỏa Chu T4; Hải Huyền V, trong đó có thể chọn chẵn (Hai đỏ, hai trắng; tứ trắng; tứ đỏ); lẻ (Một đỏ, Ba trắng; Một trắng, ba đỏ); Bốn đỏ; Bốn trắng; Một đỏ, Ba trắng; Một trắng, ba đỏ. Trong một ván có thể đặt nhiều loại hình với các mức cược khác nhau từ 500 đồng đến 10.000.000 đồng (10M), nếu thắng “chẵn” hoặc “lẻ”sẽ được thêm 98% tiền cược; thắng “Một đỏ, Ba trắng”; “Một trắng, ba đỏ” sẽ được thêm 291% tiền cược; nếu đặt “Bốn đỏ”; “Bốn trắng” sẽ được thêm 1440% tiền cược; thua thì mất (ví dụ chơi 100.000 đồng nếu thắng thì được 98.000 đồng). Đối với trò chơi “Bắn cá” người chơi sẽ mua đạn và bắn các loại “Cá” trong game để được điểm số nhân (x) lần, nếu bắn trượt hoặc không trúng cá thì mất điểm, có các loại cá cố định là x2, x3, x4, x5, x6, x7, x8, x9, x10, x12, x15, x18, x20, x25, x30, x50, x80, x100, x150, x150, x180, x220, x300; có loại cá khi bắn được thì được thưởng từ x20 đến x60; x30 đến x100; x60 đến x200; x100 đến x500.
H sử dụng tài khoản Ngân hàng M2 số 674519 (của H) và nhờ C sử dụng tài khoản Ngân hàng V2 số 1019856382 (của C) chuyển tiền (quét mã QR) vào tài khoản ngân hàng do trang game cung cấp để đổi điểm game cho H đánh bạc. Sau khi đổi được điểm game, H đặt cược các trò chơi: “Tài Xỉu”, “Xóc đĩa tứ linh”, “Xóc đĩa livestream", "Bắn cá"... cụ thể:
- Hồi 22 giờ 59 phút ngày 16/9/2024, C sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển 3.500.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng M3 số 043010014837010 tên Vy Bảo V1.
- Hồi 23 giờ 52 phút cùng ngày 16/9/2024 H sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển 600.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M3 số 04201013532182 tên Phạm Văn H6.
- Hồi 00 giờ 11 phút ngày 17/9/2024, C sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M3 số 80000132745 tên Hồ Tấn P1.
- Hồi 00 giờ 31 phút C sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển 4.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M3 số 043010014837010 tên Vy Bảo V1.
Sau khi chuyển tiền đổi điểm G1 đặt cược nhiều lần tại các trò cá cược “Tài Xỉu”, “Xóc đĩa tứ linh”, “Xóc đĩa livestream", "Bắn cá"...
Đến hồi 01 giờ 19 phút ngày 17/9/2024 Hoàng đổi điểm game rút 8.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V3 số [...] tên Lâm Tiến T5 do trang game cung cấp về tài khoản M2 số 674519 của H, sau đó H chuyển tiền trả C.
Hồi 02 giờ 31 phút ngày 17/9/2024, do thua hết điểm trong tài khoản game H nhờ C chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Đ2 số 0110542622 tên Võ Thu T6. H tiếp tục đánh bạc đến hồi 02 giờ 57 phút ngày 17/9/2024 tài khoản game còn 540 điểm, H dừng chơi.
Tổng số tiền C chuyển vào tài khoản ngân hàng do trang game cung cấp để đổi điểm cho H đánh bạc là 10.500.000 đồng. Tổng số tiền H sử dụng đánh bạc là 11.100.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su; 1.500.000 đồng do các đối tượng bán dâm mà có, trong đó Vàng Thị T1 500.000 đồng, Quàng Thị H2 500.000 đồng, Vũ Thị P 500.000 đồng (tiền Mò Thị Đ bán dâm); tạm giữ của Vũ Thị P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, trong máy lắp sim điện thoại.
Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKSTQ-P2 ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố:
- Bị cáo Liễu Văn H về 02 tội Đánh bạc và tội Môi giới mại dâm, quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 321 và khoản 1, Điều 328 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Vũ Thị P về tội Môi giới mại dâm, quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 328 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Hoàng Văn C về tội Đánh bạc, quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Liễu Văn H, Vũ Thị P, Hoàng Văn C. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): tuyên bố các bị cáo Liễu Văn H phạm tội Đánh bạc và Môi giới mại dâm; bị cáo Vũ Thị P phạm tội Môi giới mại dâm; bị cáo Hoàng Văn C phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 321; khoản 1, Điều 328; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Liễu Văn H.
Xử phạt bị cáo Liễu Văn H từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc; từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù về tội Môi giới mại dâm; Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 22/10/2024.
- Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 328; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị P.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị P 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 05 (năm) năm. Giao bị cáo Vũ Thị P về Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn C.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 05 (năm) năm. Giao bị cáo Hoàng Văn C về Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Liễu Văn H, Vũ Thị P, Hoàng Văn C.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su;
Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 1.500.000 đồng do các đối tượng bán dâm mà có.
Trả lại cho bị cáo Vũ Thị P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, trong máy lắp sim điện thoại nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Truy thu của bị cáo Hoàng Văn C số tiền 8.500.000 đồng.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Liễu Văn H, Vũ Thị P, Hoàng Văn C nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát; các bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận gì. Đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng án mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo đều đã nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật hình sự. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; lời khai của người làm chứng; sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở để kết luận:
Trong các ngày 07/9 và ngày 14/9/2024 tại thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Liễu Văn H cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện S; Vũ Thị P cư trú tại thôn T, xã T đã thực hiện hành vi môi giới mại dâm. Ngày 16 và ngày 17/9/2024 H cùng Hoàng Văn C cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện S đã thực hiện hành vi đánh bạc trên không gian mạng, cụ thể:
1. Hành vi môi giới mại dâm:
1.1. Hành vi môi giới mại dâm của Liễu Văn H:
Khoảng 03 giờ ngày 07/9/2024, H đã có hành vi trung gian dẫn dắt cho Dương Văn N ở thôn N, xã N, huyện S mua dâm với Quàng Thị H2 ở Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu với số tiền 500.000 đồng. Địa điểm N và H2 mua, bán dâm tại nhà nghỉ Đ1, thuộc xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
2.1. Hành vi môi giới mại dâm của Vũ Thị P:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/9/2024 P đã có hành vi làm trung gian dẫn dắt cho Dương Văn N mua dâm với Mò Thị Đ ở Bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La với số tiền 500.000 đồng; Ôn Cát L2 ở thôn N, xã N, huyện S mua dâm với Vàng Thị T1 ở Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu với số tiền 500.000 đồng. Địa điểm N và Đ; L2 và T1 mua, bán dâm tại nhà trọ B1 ở thôn Q, xã S, huyện S tỉnh Tuyên Quang.
2. Hành vi Đánh bạc của Liễu Văn H và Hoàng Văn C:
Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 59 phút ngày 16/9/2024 đến 02 giờ 31 phút ngày 17/9/2024, Liễu Văn H đã 01 lần chuyển 600.000 đồng vào tài khoản do trang game S cung cấp; Hoàng Văn C đã 04 lần chuyển tiền với tổng số tiền 10.500.000đ vào tài khoản do trang game S cung cấp đổi điểm để H đánh bạc trên không gian mạng, bằng các hình thức T7 xỉu, Xóc đĩa, L6 đề, Bắn cá... Quá trình đánh bạc H 01 lần rút 8.000.000 đồng từ tài khoản của trang game vào tài khoản ngân hàng của H rồi chuyển trả cho C qua tài khoản ngân hàng. Số tiền còn lại Hoàng thua bạc.
Tổng số tiền H sử dụng đánh bạc là 11.100.000 đồng; C đồng phạm với H về tội đánh bạc vai trò gúp sức với số tiền 10.500.000 đồng.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Vũ Thị P có mẹ là bà Nguyễn Thị L1 được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, có bố chồng ông Tạ Văn T8 tham gia dân công hỏa tuyến; bị cáo Hoàng Văn C có bà ngoại Nguyễn Thị X (Nguyễn Thị S1) được tặng kỷ niệm chương thanh niên xung phong. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.
[3] Về vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của các bị cáo:
- Về hành vi Môi giới mại dâm:
Hành vi phạm tội của bị cáo Liễu Văn H, Vũ Thị P là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến đạo đức xã hội và thuần phong mỹ tục, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo là nguyên nhân phát sinh các bệnh xã hội và tệ nạn xã hội mà hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tuyên truyền vận động nhằm ngăn chặn đẩy lùi, hạn chế mức thấp nhất các tệ nạn xã hội.
- Về hành vi Đánh bạc:
Hành vi của các bị cáo Liễu Văn H, Hoàng Văn C là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân thường dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo H đã sử dụng mạng Internet để đánh bạc trực tuyến với số tiền 11.100.000 đồng (đánh bạc trên các chiếu bạc online). Bị cáo C là người cho bị cáo H vay số tiền 10.500.000 đồng để đánh bạc.
Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
- Về đánh giá vai trò của các bị cáo:
Đối với hành vi Môi giới mại dâm: Hành vi môi giới mại dâm của bị cáo Liễu Văn H vào ngày 07/9/2024 (môi giới 01 người) và bị cáo Vũ Thị P vào ngày 15/9/2024 (môi giới 02 người). Mặc dù hành vi của hai bị cáo là độc lập, nhưng bị cáo P là chủ quán Karaoke, chủ động thuê nhân viên và là người đứng ra thỏa thuận với nhân viên về việc mua, bán dâm thì phải có sự đồng ý của P, đồng thời bị cáo P thực hiện môi giới mại dâm đối với 02 người, nên xác định bị cáo có vai trò chính; đối với bị cáo Liễu Văn H là người được bị cáo P thuê trông coi, quản lý quán hát và thực hiện hành vi môi giới mại dâm đối với 01 người nên bị cáo có vai trò sau bị cáo P.
Đối với hành vi Đánh bạc: Trong vụ án này, bị cáo Liễu Văn H là người trực tiếp tham gia đánh bạc với tổng số tiền 11.100.000 đồng, nên xác định bị cáo có vai trò lớn hơn bị cáo H; đối với bị cáo Hoàng Văn C là người đã 04 lần chuyển tiền với tổng số tiền 10.500.000 đồng cho bị cáo H đánh bạc, bị cáo là đồng phạm giúp sức để bị cáo H có tiền tham gia đánh bạc nên bị cáo có vai trò thứ yếu sau bị cáo H.
HĐXX xét thấy bị cáo Liễu Văn Hoàng P2 02 tội Đánh bạc và Môi giới mại dâm, trong đó tội Đánh bạc thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Vì vậy cần có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Đối với các bị cáo Vũ Thị P và Hoàng Văn C mặc dù phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Tuy nhiên, các bị cáo đều phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đồng thời có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên HĐXX nhận thấy không cần dùng biện pháp cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp. Vì vậy, các chứng cứ có trong hồ sơ đều được thu thập theo trình tự tố tụng và hợp pháp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su; 1.500.000 đồng do các đối tượng bán dâm mà có, trong đó Vàng Thị T1 500.000 đồng, Quàng Thị H2 500.000 đồng, Vũ Thị P 500.000 đồng (tiền Mò Thị Đ bán dâm); tạm giữ của Vũ Thị P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, trong máy lắp sim điện thoại.
HĐXX xét thấy:
Đối với 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su. Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.500.000 đồng do các đối tượng bán dâm mà có. Xác định, đây là tiền phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, trong máy lắp sim điện thoại của bị cáo Vũ Thị P. Xác định bị cáo P thường xuyên sử dụng vào việc liên hệ với gia đình, bạn bè và người thân, nên cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Trong vụ án này, quá trình đánh bạc bị cáo Liễu Văn H đã vay tiền nhờ bị cáo Hoàng Văn C nạp 04 lần tiền để đánh bạc, với tổng số tiền là 10.500.000 đồng (trong đó, lần 1 nạp 3.500.000 đồng, lần hai nạp 1.000.000 đồng, lần ba nạp 4.000.000 đồng, khi bị cáo Hoàng T9 bạc đã rút tiền và chuyển trả bị cáo C số tiền 8.000.000 đồng, tuy nhiên sau khi bị cáo Hoàng thua bạc lại nhờ bị cáo C nạp 2.000.000 đồng), số tiền còn nợ lại 2.500.000 đồng bị cáo H đã trả tiền mặt cho bị cáo C. Như vậy, xác định số tiền do phạm tội mà có cần phải truy thu của bị cáo C là 8.500.000 đồng.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Các vấn đề khác:
Quá trình điều tra bị cáo Vũ Thị P khai nhận, ngoài hành vi môi giới mại dâm nêu trên trong quá trình kinh doanh dịch vụ Karaoke P nhiều lần khác môi giới để khách hát và nữ nhân viên mua bán dâm với nhau do quá trình điều tra không xác định được thời gian, địa điểm, người bán dâm; tên, địa chỉ của người mua dâm do đó không có căn cứ để xử lý. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Đối với hành vi mua dâm của Dương Văn N và Ôn Cát L2; hành vi bán dâm của Vàng Thị T1, Mò Thị Đ và Quàng Thị H2; hành vi Liễu Văn H nạp 89.000 đồng vào tài khoản để đánh bạc vào hồi 11 giờ ngày 17/9/2024, do hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã có công văn số 2321/CSHS-Đ3 ngày 24/12/2024, số 117/CSHS-Đ3 ngày 04/02/2025 chuyển tài liệu đến Phòng C1 Công an tỉnh T để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Nên HĐXX không xem xét.
Đối với Lý Thị L4 (chủ Nhà nghỉ Đ1); Lưu Thị H4 (chủ nhà trọ B) không biết việc các đối tượng mua bán dâm tại địa điểm quản lý nên không đề cập hình thức xử lý. Đối với Lưu Thị H4 có hành vi hoạt động kinh doanh ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự khi chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; Cơ quan điều tra đã có công văn số 93/CSHS-Đ3 ngày 23/01/2025 chuyển tài liệu đến Giám đốc Công an tỉnh đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Nên HĐXX không xem xét.
Đối với Vy Bảo V1, Phạm Văn H6, Hồ Tấn P1, Lâm Tiến T5 và Võ Thu T6 là những người đứng tên chủ tài khoản ngân hàng do trang game cung cấp quá trình điều tra một số chủ tài khoản không thừa nhận tài khoản và giao dịch; một số chủ tài khoản vắng mặt tại địa phương, do đó không có căn cứ để xử lý. Nên HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 321; khoản 1, Điều 328; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Liễu Văn H.
- Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 328; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị P.
- Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn C.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Liễu Văn Hoàng P2 02 tội, tội Đánh bạc và tội Môi giới mại dâm;
Tuyên bố bị cáo Vũ Thị P phạm tội Môi giới mại dâm;
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội Đánh bạc;
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Liễu Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. 06 (sáu) tháng tù về tội Môi giới mại dâm. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 22/10/2024.
- Xử phạt bị cáo Vũ Thị P 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/3/2025).
Giao bị cáo Vũ Thị P về Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/3/2025).
Giao bị cáo Hoàng Văn C về Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su;
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng do các đối tượng bán dâm mà có, trong đó Vàng Thị T1 500.000 đồng, Quàng Thị H2 500.000 đồng, Vũ Thị P 500.000 đồng (tiền Mò Thị Đ bán dâm);
- Trả lại cho bị cáo Vũ Thị P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, trong máy lắp sim điện thoại nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ngày 13/03/2025).
(Số tiền trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T chuyển vào tài khoản số: 3949.0.1064844.00000 là tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).
- Truy thu của bị cáo Hoàng Văn C số tiền 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
- Bị cáo Liễu Văn H, Vũ Thị P, Hoàng Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tai phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- VKSND huyện Sơn Dương;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- CQCSĐT CA tỉnh Tuyên Quang;
- Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
- UBND xã Thiện Kế, huyện Sơn Dương;
- UBND xã Tân Thanh, huyện Sơn Dương;
- Lưu.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Minh Hùng - Trần Hữu Lượng | Lê Tuấn Linh |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội đánh bạc và môi giới mại dâm
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc và Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Liễu Văn Hoàng P2 02 tội, tội Đánh bạc và tội Môi giới mại dâm;Tuyên bố bị cáo Vũ Thị P phạm tội Môi giới mại dâm;Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội Đánh bạc;
