Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 39/2025/HS-ST

Ngày: 19-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Thành – Cán bộ hưu trí.

Ông Nguyễn Thế Nam – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Long Khánh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số 09/TB-TA ngày 11 tháng 3 năm 2025, đối với:

- Bị cáo: Trần Anh T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984 tại Đồng Nai; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp T, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Kim P, sinh năm 1957 và bà Trần Thị C, sinh năm 1961; gia đình có 05 anh em (bị cáo là con thứ hai); có vợ là Trần Thị Thu H, sinh năm 1987 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2010.

Tiền án:

  • + Năm 2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 01 năm 08 tháng về tội "Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong ngày 13/10/2021.
  • + Năm 2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 06 tháng tù về tôi “Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong vào ngày 23/5/2024.

Nhân thân:

  • + Năm 2008, bị Công an thị xã L (nay là thành phố L) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng theo Quyết định số 171/QĐ-XPHC ngày 16/7/2008.
  • + Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Đã chấp hành xong.
  • + Năm 2015, bị Công an thị xã L (nay là thành phố L) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 53/QĐ-XPHC ngày 15/10/2015.
  • + Năm 2015, bị Tòa án nhân dân Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng. Hiện đã chấp hành xong.
  • + Năm 2017, bị Công an thị xã L (nay là thành phố L) xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01059/QĐ-XPHC ngày 06/5/2017.
  • + Ngày 30/8/2024, bị Công an xã H, thành phố L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bắt tạm giam" từ ngày 05/10/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ).

- Bị hại: Anh Lê Trường S, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt còn bị hại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 05/08/2024, anh Lê Trường S, sinh năm 1985, ngụ tại Ấp T, xã H, thành phố L khóa cửa nhà về quê ở tỉnh Bến Tre để thăm gia đình. Đến khoảng 23 giờ ngày 07/08/2024, Trần Anh T một mình đi bộ qua thấy không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, T đột nhập vào nhà tìm kiếm tài sản để trộm cắp, thấy có 01 két sắt trong phòng ngủ nên đi xuống nhà bếp lấy 01 con dao, cán gỗ, dài 48cm, rộng 6cm, đầu dao nhọn rồi đi vào phòng ngủ đục két sắt để trộm cắp tài sản. Sau khoảng 01 giờ đục két sắt, T đã đục thủng một lỗ ở cánh cửa trước của két sắt kích thước 20cm x 20cm, T đưa tay vào lục tìm tài sản và lấy dược 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:

  1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC847496 do UBND huyện B, Bến Tre cấp ngày 22/12/2015, thửa đất số 48, tờ bản đồ số 7, diện tích 894,7 m² tại ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre do ông Trần Văn K đứng tên chủ sở hữu.
  2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 847494 do UBND huyện B, Bến Tre cấp ngày 22/12/2015, thửa đất số 137, tờ bản đồ số 3, diện tích 377,9m² tại ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre do ông Trần Văn K đứng tên chủ sở hữu.
  3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 926390 do UBND huyện B, Bến Tre cấp ngày 17/03/1997, thửa đất số 293, 294, 481, 329, 423, 482 tờ bản đồ số 2, số 3 diện tích 9.075m² tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre do ông Trần Văn K đứng tên chủ sở hữu.

Ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này T không lấy trộm được tài sản nào khác.

Sau khi lấy được 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên, sáng ngày 24/08/2024 T dùng 01 tờ giấy tập học sinh viết nội dung “Tôi nhặc được số chủ quyền sử dụng đất muốn lấy lại thì liên hệ SĐT này 0584.981.xxx" rồi đem để trước cổng nhà anh S. Đến khoảng 8 giờ 30 ngày 24/08/2024, anh S phát hiện tờ giấy trên nên điện cho T, sau nhiều lần thỏa thuận T yêu cầu anh S chuộc 10.000.000 đồng thì mới trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khoảng 16 giờ ngày 24/08/2024, T mượn xe mô tô biển số 60N1-3689 của anh Ngô T1, sinh năm 1982, ngụ tại ấp T, xã H, thành phố L để làm phương tiện đi lại, đồng thời mượn điện thoại thoại di động hiệu ViVo màu đen của anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1987, ngụ tại khu phố T, phường X, thành phố L, lắp sim điện thoại số thuê bao 0584.981.xxx của mình vào để gọi cho anh S, hẹn đến khu vực đường nhựa gần quán C2, ấp T, xã H, thành phố L để chuộc lại 03 GCNQSDĐ trên, khi gọi điện thoại, T yêu cầu anh S chỉ đi một mình, nếu thấy anh S đi với người khác T sẽ hủy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Anh S lo sợ T sẽ hủy 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên nên đã đồng ý và cầm theo 10.000.000 đồng đến điểm hẹn.

Lúc này, Công an xã H, thành phố L đi tuần tra thấy T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện thu giữ trong người Tiến 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên nên đã mời T về trụ sở để làm việc. Tại đây, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành giám định chữ viết trên tờ giấy T để lại tại nhà anh S.

Tại bản Kết luận giám định số 2054/KL-KTHS ngày 31/10/2024, Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

Chữ viết (trừ phần chữ viết đóng khung màu đỏ) trên tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết (trừ phần chữ viết đóng khung màu đỏ) trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) do cùng một người viết ra.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 57/HĐĐGTSTTTHS ngày 12/9/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận:

Một két sắt hiệu Việt Tiệp (rộng 50cm, cao 75cm) đã qua sử dụng (từ năm 2021) bị hủy hoại, hư hỏng nứt bể mặt trước (thời điểm 07/8/2024) có giá trị bị thiệt hại: 3.900.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo Trần Anh T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng thu giữ và xử lý:

Đối với, 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Văn K và 01 két sắt hiệu Việt Tiệp (đã hư hỏng, không còn giá trị sử dụng) là tài sản hợp pháp của người bị hại anh Lê Trường S quản lý và sử dụng. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho anh S.

Đối với 01 file ghi âm ghi lại cuộc gọi điện thoại giữa T và anh S thể hiện việc T yêu cầu anh S giao cho T số tiền 10.000.000 đồng để chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được sao lưu trong 01 đĩa VCD, đây là vật chứng, dữ liệu điện tử chứa tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo được lưu kèm hồ sơ vụ án và 01 con dao nhọn, bằng sắt, cán bằng gỗ dài 48cm, rộng 6cm hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy, hiện đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh để phục vụ công tác xét xử.

Đối với 01 tờ giấy tập học sinh bên trên có dòng chữ “Tôi nhặc được số chủ quyền sử dụng đất, muốn lấy lại liên hệ tôi theo số điện thoại 0584.981.xxx ", 01 sim điện thoại số thuê bao 0584.981.xxx.

Đối với xe mô tô mang biển số 60N-3689. Qua điều tra, Cơ quan điều tra xác định xe mô tô này là do anh Phạm Hoàng Quốc D, sinh năm 1973, ngụ tại phường T, thành phố B đứng tên chủ sở hữu, anh D đã bán xe qua người khác (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó cửa hàng xe cũ Quang C1 tại khu phố N, phường S, thành phố L mua lại rồi mang bán cho anh Ngô T1. Khi cho T mượn để sử dụng, anh T1 không biết T sử dụng xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe này cho anh Ngô T1.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu đen, đây là tài sản của anh Nguyễn Thanh H1. Anh H1 cho T mượn nhưng không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho anh H1.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Trường S đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Tại cáo trạng số 18/CT-VKSLK ngày 15 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Huỷ hoại tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 178 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; đồng thời nêu nên các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để HĐXX xem xét, áp dụng khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo. Trên cơ sở đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Huỷ hoại tài sản” và tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

  • + Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Huỷ hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Trường S đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • + Về xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu huỷ 01 con dao nhọn, bằng sắt, cán bằng gỗ (dài 48cm, rộng 06cm) mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).

  • - Đối với 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Văn K và 01 két sắt hiệu Việt Tiệp (đã hư hỏng, không còn giá trị sử dụng) là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của anh Lê Trường S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho anh S là phù hợp.
  • - Đối với xe mô tô mang biển số 60N-3689. Qua điều tra, Cơ quan điều tra xác định xe mô tô này là do anh Phạm Hoàng Quốc D, sinh năm 1973; ngụ tại phường T, thành phố B đứng tên chủ sở hữu. Anh D1 đã bán xe qua người khác (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó cửa hàng xe cũ Quang C1 tại khu phố N, phường S, thành phố L mua lại rồi mang bán cho anh Ngô T1. Khi cho T mượn để sử dụng, anh T1 không biết T sử dụng xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe này cho anh Ngô T1 là phù hợp.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu đen (không có gắn sim). Đây là tài sản của anh Nguyễn Thanh H1. Anh H1 cho T mượn nhưng không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho anh H1 là phù hợp.
  • - Đối với 01 file ghi âm ghi lại cuộc gọi điện thoại giữa T và anh S thể hiện việc T yêu cầu anh S giao cho T số tiền 10.000.000 đồng để chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (được sao lưu trong 01 đĩa VCD); 01 tờ giấy học sinh có viết nội dung “Tôi nhặc được sổ chủ quyền sử dụng đất, muốn lấy lại liên hệ tôi theo số điện thoại 0584.981.xxx " và 01 sim điện thoại có số thuê bao 0584981863. Đây là vật chứng của vụ án, dữ liệu điện tử chứa tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

+ Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong phần phát biểu lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc vắng mặt của người bị hại tại phiên toà: Xét thấy, bị hại là anh Lê Trường S đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ; quá trình Điều tra, truy tố bị hại đã có đầy đủ lời khai trình bày và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm và Điều luật truy tố:

[2.1] Tại phiên tòa bị cáo Trần Anh T khai nhận: Vào khoảng 23 giờ ngày 07/8/2024, tại nhà của anh Lê Trường S ở ấp T, xã H, thành phố L. Lợi dụng lúc anh S về quê nhà không có ai trông coi, T đã đột nhập vào nhà và sử dụng 01 con dao nhọn đâm thủng 01 lỗ, làm hư, huỷ hoại 01 két sắt hiệu Việt Tiệp của anh Lê Trường S có giá trị 3.900.000 đồng.

Sau khi hủy hoại tài sản trên, T thò tay vào trong két sắt lấy được 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Trần Văn K. Khoảng 16 giờ ngày 24/8/2024, T gọi điện thoại yêu cầu anh S mang 10.000.000 đồng đến khu vực đường nhựa gần quán C2 ở ấp T, xã H, thành phố L để đưa cho T, nếu không T sẽ tiêu hủy 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Anh S do lo sợ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình bị tiêu hủy nên đồng ý mang tiền đến điểm hẹn, khi chưa kịp giao tiền cho T thì Công an xã H, thành phố L đã tiến hành bắt giữ được T cùng số đỏ.

[2.2] Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có 02 tiền án, đã tái phạm chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm, đây là tính tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố L truy tố bị cáo về tội “Huỷ hoại tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 178 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo tại điểm e khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Lẽ ra bị cáo phải rút kinh nghiệm, phấn đấu tu dưỡng, khắc phục lỗi lầm của bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo đã không làm được điều đó. Điều này thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần phải có một mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi Quyết định mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, đấu tranh và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Trường S đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 con dao nhọn, bằng sắt, cán bằng gỗ (dài 48cm, rộng 06cm) mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).

  • - Đối với 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Văn K và 01 két sắt hiệu Việt Tiệp (đã hư hỏng, không còn giá trị sử dụng) là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của anh Lê Trường S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho anh S là phù hợp.
  • - Đối với xe mô tô mang biển số 60N-3689. Qua điều tra, Cơ quan điều tra xác định xe mô tô này là do anh Phạm Hoàng Quốc D, sinh năm 1973; ngụ tại phường T, thành phố B đứng tên chủ sở hữu. Anh D1 đã bán xe qua người khác (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó cửa hàng xe cũ Quang C1 tại khu phố N, phường S, thành phố L mua lại rồi mang bán cho anh Ngô T1. Khi cho T mượn để sử dụng, anh T1 không biết T sử dụng xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe này cho anh Ngô T1 là phù hợp.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu đen (không có gắn sim). Đây là tài sản của anh Nguyễn Thanh H1. Anh H1 cho T mượn nhưng không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho anh H1 là phù hợp.
  • - Đối với 01 file ghi âm ghi lại cuộc gọi điện thoại giữa T và anh S thể hiện việc T yêu cầu anh S giao cho T số tiền 10.000.000 đồng để chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (được sao lưu trong 01 đĩa VCD); 01 tờ giấy học sinh có viết nội dung “Tôi nhặc được sổ chủ quyền sử dụng đất, muốn lấy lại liên hệ tôi theo số điện thoại 0584.981.xxx " và 01 sim điện thoại có số thuê bao 0584981863. Đây là vật chứng của vụ án, dữ liệu điện tử chứa tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Long Khánh: Xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Huỷ hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Anh T 03 (ba) năm tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 02 (hai) năm tù, về tội “Huỷ hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Anh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2024.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu huỷ 01 con dao nhọn, bằng sắt, cán bằng gỗ (dài 48cm, rộng 06cm) mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Anh T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND TP. Long Khánh (2);
  • - Thi hành án (8);
  • - Công an tỉnh Đồng Nai (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Lưu VP-HS (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thế Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tội "huỷ hoại tài sản" và tội "cưỡng đoạt tài sản"

  • Số bản án: 39/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội "Huỷ hoại tài sản" và tội "Cưỡng đoạt tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Huỷ hoại tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Anh T 03 (ba) năm tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 02 (hai) năm tù, về tội “Huỷ hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Anh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger