|
TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày 03 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tính
Bà Hoàng Thị Kim Quy
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tăng Bá Vương - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/HSST ngày 03 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 20/3/2023, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nùng Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 9 năm 1995, tại: Tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản H, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Nùng Văn T (đã chết) và con bà Lường Thị T1 (sinh năm 1974); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số 10/2023/HS-ST ngày 12/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xử phạt Nùng Văn C 16 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 19/4/2024, C chấp hành xong hình phạt tù nhưng tính đến thời điểm phạm tội lần này C chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại thành phố L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Công H – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại:
- Anh Đỗ Mạnh H1, sinh năm 1994 (vắng mặt). Địa chỉ: bản M, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
- Anh Lê Văn Y, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: tổ I, phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
- Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1965 (vắng mặt). Địa chỉ: bản H, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
- Ông Sùng A P, sinh năm 1977 (vắng mặt). Địa chỉ: bản H, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
- Anh Nông Văn T3, sinh năm 1991 (vắng mặt). Địa chỉ: bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu.
- Ông Trần Văn H2, sinh năm 1978 (vắng mặt). Địa chỉ: tổ 7, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu
- Anh Vàng Văn Q, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: bản C, xã S, thành phố L
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1992 (vắng mặt). Địa chỉ: bản M, thị trấn T, huyện T;
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1974 Địa chỉ: bản T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)
- Anh Nùng Văn T5, sinh năm 1989 (vắng mặt). Địa chỉ: Bản H, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong khoảng thời gian từ ngày 29/10/2024 đến ngày 05/11/2024, Nùng Văn C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Win DETECH, không lắp biển kiểm soát của ông Nùng Văn T5, sinh năm 1989, trú tại bản Hợp Nhất, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu ( xe ban đầu mang BKS: 25U1-009.10, sau khi T5 cho C mượn xe để đi lại thì C đã tháo BKS) đem theo 01 cờ lê loại 17mm và 01 mỏ lết bằng kim loại của C đi từ nhà thuộc bản H, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu lên thành phố L, tỉnh Lai Châu để trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian nói trên, C đã 07 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố L, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 28/10/2024, C một mình điều khiển xe mô tô từ nhà tại bản H, xã B, huyện T đi lên thành phố L nhưng không tìm được tài sản trộm cắp. Khoảng 04 giờ sáng ngày 29/10/2024, C điều khiển xe mô tô đi về nhà thì thấy 01 máy trộn bê tông của ông Đỗ Mạnh H1 ở bản M, xã S, thành phố L để hành lang đường gần nhà ông H1. C dừng xe và dùng cờ lê, mỏ lết đem theo tháo chiếc mô tơ loại công suất 2.2kw khỏi máy trộn bê rồi dùng xe mô tô chở chiếc mô tơ về nhà. Khoảng hơn 08 giờ cùng ngày, C gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T4 đến nhà C rồi bán chiếc mô tơ nói trên cho T4 với giá 400.000 đồng (C không nói nguồn gốc chiếc mô tơ cho T4 biết). Số tiền bán mô tơ C đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 30/10/2024, C một mình điều khiển xe mô tô từ nhà mình đi lên thành phố L tiếp tục tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng hơn 03 giờ sáng ngày 31/10/2024, C đi đến khu vực phường Q, thành phố L thì phát hiện tại nhà ông Lê Văn Y có 01 máy tời và 01 máy trộn bê tông của ông Y để ở hàng lang gần nhà đang xây. C sử dụng cờ lê và mỏ lết đem theo tháo trộm 01 chiếc mô tơ loại công suất 2.2kw của máy trộn bê tông và 01 chiếc mô tơ loại công suất 2.2kw của máy tời cho lên xe mô tô rồi điều khiển xe đi về nhà.
Lần thứ ba: Sau khi lấy trộm được tài sản của ông Lê Văn Y, trên đường về, khi C đi qua công trình xây dựng nhà tại tổ F phường Q, thành phố L do ông Phạm Văn T2 làm chủ thầu xây dựng thì thấy có 01 máy trộn bê tông của ông T2 để ở hành lang vỉa hè. C dừng xe và dùng cờ lê, mỏ lết đem theo tháo 01 chiếc mô tơ loại công suất 3.0kw khỏi máy trộn bê tông. Sau đó C điều khiển xe chở 03 chiếc mô tơ lấy trộm của ông Y và ông T2 đi về nhà. Khoảng 07 giờ sáng cùng ngày 31/10/2024, C gọi điện cho Nguyễn Văn T4 đến nhà C và bán 03 mô tơ nói trên cho T4 với 1.200.000 đồng. (C không nói nguồn gốc chiếc mô tơ cho T4 biết). Số tiền bán mô tơ C đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ tư: Khoảng 21 giờ ngày 31/10/2024, C một mình điều khiển xe mô tô từ nhà mình đi lên thành phố L tiếp tục tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 03 giờ sáng ngày 01/11/2024, C đi đến khu vực công trình xây dựng nhà của ông Sùng A P ở bản H, xã S, thành phố L thì thấy 01 máy trộn bê tông của ông P để trước cửa nhà. C đã dùng cờ lê, mỏ lết đem theo tháo trộm chiếc mô tơ loại công suất 2.2kw của máy trộn bê tông rồi điều khiển xe mô tô chở chiếc mô tơ về nhà cất giấu. Đến sáng ngày 01/11/2024, C gọi điện cho Nguyễn Văn T4 đến nhà C và bán chiếc mô tơ cho T4 với giá 400.000 đồng. (C không nói nguồn gốc chiếc mô tơ cho T4 biết). Số tiền bán mô tơ C đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ năm: Khoảng 21 giờ ngày 02/11/2024, C một mình điều khiển xe mô tô từ nhà mình đi lên thành phố L tiếp tục tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 03 giờ sáng ngày 03/11/2024, C đi đến khu vực công trình xây dựng nhà tại tổ C, phường Đ, thành phố L do ông Nông Văn T3 là chủ thầu xây dựng rồi đột nhập vào công trình lấy trộm một số tài sản của ông T3 gồm: 01 chiếc mô tơ công suất 3.0kw của máy tời, 01 chiếc mô tơ công suất 3.0kw của máy trộn bê tông, 01 máy khoan cầm tay nhãn hiệu CLASSIC, 01 máy hàn nhãn hiệu ZIZIWELD, 01 cuộn dây điện dài khoảng 30 mét. Sau đó C điều khiển xe mô tô chở các tài sản trên về nhà cất giấu.
Lần thứ sáu: Sau khi lấy trộm được tài sản của ông Nông Văn T3, trên đường về, khi C đi qua công trình xây dựng nhà tại tổ B, phường Đ, thành phố L do anh Trần Văn H2 làm chủ thầu xây dựng thì thấy có 01 máy tời để ở hành lang vỉa hè. C tiếp tục dùng cờ lê, mỏ lết đem theo tháo 01 chiếc mô tơ loại công suất 3.0kw khỏi máy tời. Sau đó C điều khiển xe mô tô chở toàn bộ tài sản lấy trộm được của ông T3 và ông H2 về nhà. Đến sáng ngày 04/11/2024, C gọi điện cho Nguyễn Văn T4 đến nhà C rồi bán 03 mô tơ cho T4 với giá 1.200.000 đồng (C không nói nguồn gốc chiếc mô tơ cho T4 biết). Sau đó T4 đã bán chiếc mô tơ loại công suất 3.0kw mà C trộm cắp của anh H2 cho ông Nguyễn Văn L với giá 1.000.000 đồng. Còn các tài sản khác C vẫn cất giấu tại nhà. Số tiền bán mô tơ C đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ bảy: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 04/11/2024, C một mình điều khiển xe mô tô từ nhà mình đi lên thành phố L tiếp tục tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi C đi đến khu vực nhà ông Vàng Văn Q, sinh năm 1990, trú tại bản C, xã S, thành phố L thì thấy có 01 máy trộn bê tông của ông Q để ở ngoài cửa nhà đang xây nhưng C không lấy trộm ngay mà tiếp tục đi lên thành phố L để trộm cắp tại sản nhưng không tìm thấy tài sản sơ hở để lấy trộm. Khoảng 03 giờ sáng ngày 05/11/2024, C điều khiển xe mô tô quay lại nhà ông Q và dùng cờ lê, mỏ lết tháo trộm chiếc mô tơ loại 2.2kw khỏi máy trộn bê tông rồi điều khiển xe mô tô chở chiếc mô tơ lấy trộm về nhà cất giấu.
Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, ngày 07/11/2024 ông Vàng Văn Q đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Quá trình kiểm tra, xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã xác định được C là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Q nên đã triệu tập C để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, C thừa nhận nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của ông Q và các bị hại khác, đồng thời tự giác giao nộp 01 chiếc mô tơ đã lấy trộm của ông Q vào ngày 05/11/2024 và một số vật chứng khác có liên quan. Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt giữ đối với C theo quy định và tiến hành truy tìm, thu giữ các vật chứng có liên quan.
Tại các bản Kết luận định giá tài sản số 97 ngày 12/11/2024, số 101 ngày 26/11/2024 và số 113 ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND thành phố L, kết luận:
- 01 mô tơ nhãn hiệu ELECTRIC MOTORS điện cơ Toàn Phát COMPANY công suất 2.2kw (đã qua sử dụng) của ông Đỗ Mạnh H1 tại thời điểm ngày 29/10/2024 có giá trị 939.448 đồng.
- 02 mô tơ điện công xuất 2.2kw (đã qua sử dụng) của ông Lê Văn Y tại thời điểm ngày 31/10/2024 có giá trị: 4.713.836 đồng.
- 01 mô tơ công xuất 3.0kw (đã qua sử dụng) của ông Phạm Văn T2 tại thời điểm ngày 31/10/2024 có giá trị: 1.862.842 đồng.
- 01 mô tơ nhãn hiệu ELECTRIC MOTORS điện cơ Toàn Phát COMPANY công suất 2.2kw (đã qua sử dụng) của ông Sùng A P tại thời điểm ngày 01/11/2024 có giá trị: 963.986 đồng.
- 02 (hai) mô tơ có dán tem nhãn hiệu điện cơ Trường M công suất 3.0kw trên 4HP (đã qua sử dụng) của ông Nông Văn T3 tại thời điểm ngày 03/11/2024 có giá trị: 2.910.850 đồng.
- 01 máy hàn điện màu xanh, nhãn hiệu ZIZIWELD (đã qua sử dụng) của ông Nông Văn T3 tại thời điểm ngày 03/11/2024 có giá trị 1.197.552 đồng.
- 01 máy khoan bê tông nhãn hiệu CLASSIC (đã qua sử dụng) của ông Nông Văn T3 tại thời điểm ngày 03/11/2024 có giá trị: 1.197.552 đồng.
- 01 cuộn dây điện màu vàng có chiều dài 30m của ông Nông Văn T3 đến thời điểm ngày 03/11/2024 có giá trị: 0 đồng (do không đủ thông tin cơ sở về tài sản như năm sử dụng, hiện trạng tài sản,... để thực hiện định giá nên Hội đồng định giá quyết định từ chối thực hiện định giá).
- 01 mô tơ loại công suất 3.0kw (đã qua sử dụng) của ông Trần Văn H2 tại thời điểm ngày 03/11/2024 có giá trị 2.979.664 đồng.
- 01 mô tơ nhãn hiệu ELECTRIC MOTORS điện cơ Toàn Phát COMPANY công suất 2.2kw (đã qua sử dụng) của ông Vàng Văn Q tại thời điểm ngày 05/11/2024 có giá trị 2.740.970 đồng.
Như vậy, trong 07 lần trộm cắp tài sản của Nùng Văn C có 03 lần chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng của các ông Đỗ Mạnh H1, Sùng A P, Phạm Văn T2 và 04 lần chiếm đoạt tài sản có trị giá trên 2.000.000 đồng của các ông Lê Văn Y, Nông Văn T3, Trần Văn H2, Vàng Văn Q. Mặc dù lần trộm cắp tài sản của ông Phạm Văn T2 có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng hành vi này được thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian với hành vi trộm cắp tài sản của ông Lê Văn Y nên C vẫn phải trách nhiệm hình sự về trị giá tài sản đã trộm cắp của ông T2. Do đó, C phải chịu trách nhiệm hình sự về 04 lần trộm cắp tài sản với tổng trị giá tài sản C đã trộm cắp là 17.603.266 đồng.
Toàn bộ số tiền bán tài sản trộm cắp được, C đã tiêu sài cá nhân hết.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên Tòa Nùng Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Các vấn đề khác của vụ án:
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Tạm giữ của Nùng Văn C: 01 mô tơ điện nhãn hiệu Toàn Phát M, máy có gắn 01 aptomat nối dây điện màu vàng, phích cắm màu cam; 01 mũ bảo hiểm màu hồng, kiểu dạng mũ lưỡi trai, trên mũ có dòng chữ “ Jeen Hello Kity"; 01 cờ lê bằng kim loại, loại kết hợp hai đầu ( một đầu mở và một đầu vòng), loại 17mm; 01 mỏ lết bằng kim loại, trên thân mỏ lết quấn vải và nhiều vòng dây cao su đen; 01 máy hàn điện màu xanh, nhãn hiệu ZIZIWELD; 01 khoan bê tông nhãn hiệu CLASSIC; 01 cuộn dây điện màu vàng; 01 khẩu trang bên ngoài màu đen, bên trong màu xám; 01 áo khoác da màu đen, bị rách nhiều chỗ; 01 thùng xốp bên ngoài quấn băng dính màu vàng, không có nắp đậy; 01 thùng xốp màu trắng, không có nắp đậy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu đen, màn hình bị vỡ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Win DETECH, ESPERO, không có biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát xe máy: 25U-009.10.
- Tạm giữ của Nguyễn Văn T4: 05 mô tơ nhãn hiệu ELECTRIC MOTORS điện cơ Toàn P COMPANY công suất 2.2kw, bề mặt vỏ máy dính nhiều bụi, bẩn; 02 mô tơ nhãn hiệu điện cơ Trường M, công suất 3.0kw/4HP, bề mặt vỏ máy có dính nhiều bụi, bẩn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình bị vỡ.
- Tạm giữ của Nguyễn Văn L: 01 chiếc mô tơ vỏ ngoài màu xanh lá cây nhãn hiệu Điện cơ Trường Mạnh sản xuất, công suất 3.0kw/4HP.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại 09 chiếc mô tơ, 01 máy hàn điện, 01 khoan bê tông, 01 cuộn dây điện cho các bị hại. Các vật chứng còn lại chưa xử lý, chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu chờ xử lý.
Cáo trạng số 08/CT - VKSTP ngày 03/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố Nùng Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận định giá tài sản mà bị cáo trộm cắp và Quyết định truy tố nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Vàng Văn Q, Đỗ Văn H3, Lê Văn Y, Phạm Văn T2, Sùng A P, Nông Văn T3, Trần Văn H2 vắng mặt tại phiên tòa quá trình điều tra đã được nhận lại tài sản, nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T4 và anh Nùng Văn T5 vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra không yêu cầu bị cáo bồi thường gì; ông Nguyễn Văn L yêu cầu anh Nguyễn Văn T4 trả lại 1.000.000 đồng tiền mua mô tơ.
Anh Nùng Văn T5 đề nghị Hội đồng xét xử trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Win DETECH, ESPERO, không có biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát xe máy: 25U-009.10 mà anh cho bị cáo Nùng Văn C mượn, nhưng anh T5 không biết C sử dụng xe vào việc trộm cắp tài sản.
Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo C theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nùng Văn C từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2024.
Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn L yêu cầu Nguyễn Văn T4 trả lại 1.000.000 đồng tiền mua mô tơ. Đề nghị áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, buộc anh T4 trả lại cho ông L số tiền 1.000.000 đồng.
Bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu hồng, kiểu dạng mũ lưỡi trai, trên mũ có dòng chữ “Jeen Hello Kity”; 01 cờ lê bằng kim loại, loại kết hợp hai đầu (một đầu mở và một đầu vòng), loại 17mm; 01 mỏ lết bằng kim loại, trên thân mỏ lết quấn vải và nhiều vòng dây cao su đen; 01 khẩu trang bên ngoài màu đen, bên trong màu xám; 01 áo khoác da màu đen, bị rách nhiều chỗ; 01 thùng xốp bên ngoài quấn băng dính màu vàng, không có nắp đậy; 01 thùng xốp màu trắng, không có nắp đậy;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu đen, màn hình bị vỡ thu giữ của bị cáo C;
- Trả lại cho anh Nùng Văn T5 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Win DETECH, ESPERO, không có biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát xe máy: 25U-009.10.
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn T4: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình bị vỡ
Chấp nhận việc trả lại 09 chiếc mô tơ, 01 máy hàn điện, 01 khoan bê tông, 01 cuộn dây điện cho các bị hại, theo QĐ xử lý vật chứng số 1096 ngày 23/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện thành phố L, tỉnh Lai Châu.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý án phí theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm tranh luận của người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Tuy nhiên quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình ngày 05/11/2024, đồng thời tự nguyện khai nhận các lần phạm tội trước. Vì vậy, ngoài tình tiết giảm nhẹ như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở đó giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với kiểm sát viên.
* Ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên: Việc sau khi bị bắt bị cáo C ngoài việc khai nhận hành vi phạm tội của mình ngày 05/11/2024 đã khai báo thêm những lần phạm tội trước, những lần phạm tội này đã bị các bị hại phát hiện theo lời khai của các bị hại, việc khai nhận này của bị cáo C không thuộc trường hợp “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà được tính là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của người bào chữa.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Nùng Văn C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tính chất hành vi phạm tội:
Trên cơ sở lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để khẳng định: Lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, trong các ngày 31/10/2024, 01/11/2024, 05/11/2024, Nùng Văn C đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố L, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ sáng ngày 31/10/2024, tại tổ I, phường Q, thành phố L, C đã trộm cắp 02 chiếc mô tơ loại công suất 2.2kw của ông Lê Văn Y có tổng trị giá 4.713.836 đồng. Trên đường về đến tổ F phường Q, thành phố L, C tiếp tục trộm cắp 01 chiếc mô tơ loại công suất 3.0kw của ông Phạm Văn T2 có trị giá 1.862.842 đồng. Hành vi phạm tội của C trong hai lần này là liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt được là 6.576.678 đồng.
- Lần thứ hai: Khoảng 03 giờ sáng ngày 03/11/2024, tại tổ C, phường Đ, thành phố L, Nùng Văn C đã trộm cắp 02 chiếc mô tơ loại công suất 3.0kw, 01 máy khoan bê tông, 01 máy hàn điện, 01 cuộn dây điện của ông Nông Văn T3 có tổng trị giá 5.305.954 đồng.
- Lần thứ ba: sau khi trộm cắp tài sản của ông Nông Văn T3, trên đường về đến tổ B, phường Đ, thành phố L, C tiếp tục trộm cắp 01 chiếc mô tơ loại công suất 3.0kw của ông Trần Văn H2 có trị giá 2.979.664 đồng.
- Lần thứ tư: Khoảng 03 giờ ngày 05/11/2024, tại bản C, xã S, thành phố L, Nùng Văn C đã trộm cắp 01 chiếc mô tơ loại 2.2kw của ông Vàng Văn Q có trị giá 2.740.970 đồng.
Tổng giá trị tài sản trộm cắp mà C phải chịu trách nhiệm hình sự là: 17.603.266 đồng.
Bị cáo Nùng Văn C là người đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Nùng Văn C cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ....”
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phải đi chấp hành án chịu sự giáo dục nghiêm khắc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, là thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Không có căn cứ áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo theo đề nghị của người bào chữa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhiều lần, hơn nữa tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ nghiêm khắc để giáo dục, răn đe giúp bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 mũ bảo hiểm màu hồng, kiểu dạng mũ lưỡi trai, trên mũ có dòng chữ “Jeen Hello Kity”; 01 cờ lê bằng kim loại, loại kết hợp hai đầu (một đầu mở và một đầu vòng), loại 17mm; 01 mỏ lết bằng kim loại, trên thân mỏ lết quấn vải và nhiều vòng dây cao su đen; 01 khẩu trang bên ngoài màu đen, bên trong màu xám; 01 áo khoác da màu đen, bị rách nhiều chỗ; 01 thùng xốp bên ngoài quấn băng dính màu vàng, không có nắp đậy; 01 thùng xốp màu trắng, không có nắp đậy; là vật chứng không có giá trị và vật liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu đen, màn hình bị vỡ thu của bị cáo C là công cụ bị cáo dùng để trao đổi mua bán tài sản trộm cắp được nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình bị vỡ thu của anh Nguyễn Văn T4 đây không phải là vật chứng của vụ án mà là tài sản hợp pháp của anh T4 nên cần xem xét trả lại cho anh T4 theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Win DETECH, ESPERO, không có biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát xe máy: 25U-009.10 là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của anh Nùng Văn T5 nên trả lại cho anh T5 theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 09 chiếc mô tơ, 01 máy hàn điện, 01 khoan bê tông, 01 cuộn dây điện là vật chứng của vụ án, trong quá trình điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố L đã trả lại cho các chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 1096 ngày 23/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện thành phố L, tỉnh Lai Châu. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Vàng Văn Q, Đỗ Văn H3, Lê Văn Y, Phạm Văn T2, Sùng A P, Nông Văn T3 và anh Trần Văn H2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T4 và anh Nùng Văn T5 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với ông Nguyễn Văn L yêu cầu anh Nguyễn Văn T4 trả lại 1.000.000 đồng tiền mua mô tơ, xét yêu cầu này của ông L đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ theo quy định tại các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[7]. Về quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng pháp luật, nên cần chấp nhận.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với việc Nùng Văn C 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các ông Đỗ Mạnh H1, Sùng A P, Phạm Văn T2 vào các ngày 29/10/2024, 31/10/2024, 01/11/2024. Do trị giá tài sản mỗi lần chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng và tài sản chiếm đoạt của ông T2 đã được cộng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên việc Công an thành phố L chỉ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 02 lần trộm cắp tài sản của ông H1 và ông P là phù hợp.
Đối với việc Nguyễn Văn T4 mua những tài sản do Nùng Văn C trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác định khi T4 đến mua tài sản của C thì C không nói cho T4 biết về nguồn gốc của những tài sản này, T4 khai nhận bản thân nghĩ C làm công trình nên có nhiều tài sản hỏng bán cho T4 chứ T4 không biết những tài sản này là do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xem xét, xử lý đối với T4 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.
Đối với việc Nguyễn Văn L, là người đã mua lại chiếc mô tơ của Nguyễn Văn T4 sau khi T4 mua được của Nùng Văn C. Quá trình điều tra xác định khi L đến mua chiếc mô tơ tại cửa hàng phế liệu của T4 thì L không biết đây tài sản này là do Nùng Văn C trộm cắp mà có nên L không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối ông Nùng Văn T5, là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS: 25U1-009.10 Cường dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định T5 vào tháng 3/2024 khi T5 đi làm thuê đã giao xe cho C để làm phương tiện đi lại, việc C tự ý sử dụng chiếc xe mô tô này làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội T5 không biết nên không đồng phạm với C về tội “Trộm cắp tài sản”.
[9] Về án phí: Bị cáo C sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[1]. Tuyên bố bị cáo Nùng Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2]. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nùng Văn C 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2024.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc anh Nguyễn Văn T4 có trách nhiệm:
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn L số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
[4]. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 mũ bảo hiểm màu hồng, kiểu dạng mũ lưỡi trai, trên mũ có dòng chữ “Jeen Hello Kity”; 01 cờ lê bằng kim loại, loại kết hợp hai đầu (một đầu mở và một đầu vòng), loại 17mm; 01 mỏ lết bằng kim loại, trên thân mỏ lết quấn vải và nhiều vòng dây cao su đen; 01 khẩu trang bên ngoài màu đen, bên trong màu xám; 01 áo khoác da màu đen, bị rách nhiều chỗ; 01 thùng xốp bên ngoài quấn băng dính màu vàng, không có nắp đậy; 01 thùng xốp màu trắng, không có nắp đậy;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu đen, màn hình bị vỡ thu của bị cáo C.
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình bị vỡ.
- Trả lại cho anh Nùng Văn T5 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Win DETECH, ESPERO, không có biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát xe máy: 25U-009.10.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 06 phút ngày 06/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu).
[5]. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Vân Anh |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nùng Văn C phạm tội "Trộm cắp tài sản"
