Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS-ST

Ngày: 19/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đoàn Minh Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:- bà Lê Thanh Nhàn

- bà Lê Thị Thu Anh

Thư ký phiên tòa: ông Lê Thành Nam, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị T (không có tên gọi khác); sinh ngày 08/6/1967 tại tỉnh Quảng Ninh;

Nơi thường trú: tổ F, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là tổ F, khu B, phường H, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Thái; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Lưu Mai T2; có chồng là Phạm Văn H (đã chết) và 02 con; tiền án, tiền sự: không có;

Bị cáo đầu thú ngày 24/7/2025, tạm giữ từ ngày 24/7/2025 đến ngày 02/8/2025, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1973; nơi thường trú: khu H, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Tạ Văn B, sinh năm 1970; nơi thường trú: khu X, xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2014, Trần Thị T đến M làm công việc tự do. Sáng ngày 29/3/2016, khi đang ngồi ở khu vực B (Z) thì có một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến gặp T đặt vấn đề thuê vận chuyển xe máy từ Việt Nam sang Trung Quốc bằng phương thức cho xe lên đò để chở qua sông biên giới với giá 300.000 đồng/xe rồi người đó cho số điện thoại để liên lạc. T thấy cần có người cùng vận chuyển nên đã gọi cho Tạ Văn B thỏa thuận về việc tìm thêm người vận chuyển xe máy từ Việt Nam sang Trung Quốc cho T với tiền công 200.000 đồng/xe, B đồng ý. Sau đó, B rủ thêm Quách Văn V, Đỗ Văn T3, Bàn Văn X tham gia cùng vận chuyển xe mô tô thuê, tiền công sẽ chia đều, cả ba người đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, người đàn ông gọi cho T để giao xe thì T nhờ H1 (làm nghề bốc vác, không xác định được lai lịch, địa chỉ) đi nhận 04 xe hộ T rồi giao cho B. Sau đó T liên hệ với T4 (làm lái đò, không xác định được lai lịch địa chỉ) để chở xe qua sông biên giới, T4 đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T lên đò cùng B, X, V, T3 mang 04 chiếc xe mô tô đi đò qua sông biên giới sang khu vực cửa khẩu Đ, Trung Quốc để giao xe. Lúc này, T tiếp tục nhận được điện thoại của người đàn ông thuê T nói đã đưa thêm cho H1 02 chiếc xe nhãn hiệu Honda SH để T tiếp tục vận chuyển sang Trung Quốc. T bảo B, V, X, T3 quay trở lại nhà trọ của T để lấy 02 chiếc xe vận chuyển sang Trung Quốc, đồng thời gọi điện cho Nguyễn Văn T5 là lái đò thuê vận chuyển 02 chiếc xe trên. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, B, V, X điều khiển 02 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH đưa ra bờ sông B thuộc khu C, phường K, thành phố M (nay là phường M), tỉnh Quảng Ninh. Khi Tạ Văn B, Quách Văn V, Bàn Văn X, và Đỗ Văn T3 đang vận chuyển 02 chiếc xe trên xuống đò sắt mang số hiệu QN - 4672 do Nguyễn Văn T5 điều khiển thì bị tổ công tác Công an thành phố M phát hiện và bắt quả tang, Đỗ Văn T3 và Bàn Văn X chạy thoát (sau đó đã đầu thú vào 30/3/2016). Trần Thị T đã bỏ trốn và bị truy nã. Đến ngày 24/7/2025, T đầu thú.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 294/KLĐG ngày 30/3/2016, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, kết luận: Hai chiếc xe nhãn hiệu Honda SH có giá trị là 108.750.000 đồng (Một trăm linh tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Trần Thị T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, T khai nhận trước đó còn có một số lần nhận vận chuyển xe máy không có giấy tờ từ Việt Nam sang Trung Quốc cho những người không quen biết nhưng T không xác định được số lượng, loại xe và những người đã cùng T vận chuyển xe.

Những người làm chứng gồm ông Đỗ Văn T3 và Tạ Văn B trong quá trình điều tra có nội dung lời khai như nội dung vụ án. Những người làm chứng gồm Quách Văn V, Nguyễn Văn T5, Bàn Văn X có nội dung lời khai trong quá trình điều tra năm 2016 như nội dung vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 06/CT-VKSKV6, ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

*)Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Thị T khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo thực hiện như nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 154, điêm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, khoản 1,2,3,5 Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách tù 24 đến 30 tháng về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Giao bị cáo Trần Thị T cho UBND phường H, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị T từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là phụ nữ, tuổi cao cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh, điều khoản áp dụng:

Căn cứ vào bản Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 29/3/2016, Kết luận định giá tài sản ngày 30/3/2016, Kết luận giám định ngày 12/4/2016, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh xác định hiện trường, nội dung lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/3/2016, tại đường B thuộc khu C, phường K, thành phố M (nay là phường M), tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Trần Thị T có hành vi cùng Tạ Văn B, Quách Văn V, Nguyễn Văn T5, Bàn Văn X, Đỗ Văn T3 vận chuyển trái phép 02 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH không rõ nguồn gốc có giá trị 108.750.000 đồng (Một trăm linh tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) từ Việt Nam sang Trung Quốc để lấy tiền công thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Căn cứ vào trị giá hàng hóa vận chuyển trái phép qua biên giới là 108.750.000 đồng, hành vi của bị cáo Trần Thị Tuyết cấu T6 tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 dựa trên nguyên tắc có lợi cho bị cáo (so sánh quy định về mức phạt tiền là hình phạt chính và hình phạt bổ sung). Quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp lý.

Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

“1. Người nào vận chuyển trái phép qua biên giới thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Hàng hóa...có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng...”

Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây thất thu ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến việc quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa. Tuy nhiên vì lợi ích kinh tế, bị cáo đã bất chấp việc pháp luật nghiêm cấm hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới mà vẫn thực hiện. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Trần Thị T có vai trò chính, những đồng phạm làm thuê cho bị cáo Trần Thị T đã bị xét xử năm 2016 có vai trò sau bị cáo T.

[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị T không có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Thị T phạm tội vì mục đích hưởng lợi từ tiền thuê vận chuyển, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đối với bị cáo.

[4] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, nên chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo thành người lương thiện, công dân có ích cho xã hội.

[5] Về vật chứng và xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2016/HSST, ngày 14/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, nên không đề cập.

Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự: Cần buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 154; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Thị T cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo; trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự; trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Trần Thị T số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).

*) Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*)Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND khu vực 6 – Quảng Ninh ;
  • - Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Minh Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH về vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

  • Số bản án: 39/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 154; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vận chuyền trái phép hàng hóa qua biên giới”, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Thị T cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo; trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự; trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù. đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger