Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS-ST

Ngày: 18-03-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Văn Đ; sinh ngày: 22/9/1986 tại Kiên Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 258/9 N, phường V, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: A H, phường V, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Hoàng H và bà: Lý Ngọc H1; tiền án: Ngày 10/01/2023 “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án Thành phố R xử phạt 12 tháng tù giam theo bản án số 237/2023/HS-ST ngày 25/10/2023. Bị cáo chấp hành án đến ngày 10/01/2024 hết án tha.; tiền sự: Ngày 11/01/2023 “Cố ý gây thương tích” bị Công an Thành phố R, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 131/QĐ-XPHC ngày 07/4/2023 phạt tiền mức 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Bị cáo chưa đóng phạt; Nhân thân: Ngày 03/11/2007 “Cướp tài sản” bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử 07 năm tù giam theo Bản án số 33/2008/HS-ST ngày 27/02/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá và Bản án số 63/2008/HS-PT ngày 09/05/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang. Bị cáo chấp hành án đến ngày 03/7/2013 hết án tha; đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Ngày 28/01/2019, sử dụng trái phép chất ma túy bị Toà án nhân nhân huyện C, tỉnh Kiên Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang theo Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/QĐ-TA ngày 07/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Ngày 23/9/2019 bị cáo Đ chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2024 tại Trại tạm giam C – phân trại tạm giam khu vực Quận A.

(Bị cáo có mặt).

Bị hại: Anh Lê Nguyễn Minh H2, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: 1 N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/10/2024, bị cáo Lê Văn Đ đi bộ đến trước số A đường T, Phường B, Quận A, nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng biển số: 59T2 – 266.75 của anh Lê Nguyễn Minh H2 dựng bên hông nhà không có người trông coi, chìa khóa xe còn cắm trên ổ khóa xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, bị cáo liền đi lại gần ngồi lên xe, khởi động máy và điều khiển xe chạy về hướng đường H. Lúc này, anh Lê Nguyễn Minh H2 phát hiện bị cáo Đ chiếm đoạt chiếc xe nên liền lấy xe gắn máy chở theo anh Phạm Tuấn H3 truy hô và đuổi theo bị cáo Đ liên tục. Khi đến trước số A đường T, Phường B, Quận A, anh H2 cùng quần chúng bắt giữ được bị cáo Đ cùng vật chứng, giao Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A) để giải quyết.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt, theo Kết luận định giá tài sản số: 2251/KL-HĐĐGTS ngày 29/10/2024, Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “Tại thời điểm ngày 21/10/2024: 01 (một) chiếc xe gắn máy 02 bánh hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng đen bạc, dung tích xilanh 109cc, xe chính hãng, do Việt Nam sản xuất, đăng ký lần đầu 05/03/2019, biển số 59T2-266.75, số khung: RLHJA3917KY065415, số máy: JA39E0921600 (tài sản đã qua sử dụng, còn hoạt động, thu hồi được, bộ dàn đồ mũ trước và sau của xe bị hư, bể) trị giá 9.500.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q), bị cáo Lê Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra camera tại hiện trường vụ án, lời khai người bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave mang biển số 59T2-266.75 màu trắng; số khung: RLHJA3917KY065415; số máy: JA39E0921600. Qua xác minh là tài sản thuộc sở hữu của anh Lê Nguyễn Minh H2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q) đã xử lý vật chứng trả lại cho anh H2.
  • - 01 (một) chiếc áo thun ngắn tay màu trắng; 01 (một) quần kaki lửng màu đỏ - là trang phục bị cáo Lê Văn Đ đã mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • - 01 USB màu xanh, lưu trữ hình ảnh trích xuất từ camera tại hiện trường, ghi lạ hình ảnh bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Về dân sự: Anh Lê Nguyễn Minh H2 không yêu cầu bị cáo Đ bồi thường gì về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSQ10 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Lê Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo: Lê Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Văn Đ đã có hành vi lợi dụng sự sở hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng mang biển số 59T2-266.75 trị giá 9.500.000 đồng. Do vậy, bị cáo Lê Văn Đ bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tái phạm. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kế án, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên thiệt hại không lớn. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Nguyễn Minh H2 không yêu cầu bị cáo Lê Văn Đ bồi thường về dân sự do vậy Hội đồng xét xử không có gì để xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) chiếc áo thun ngắn tay màu trắng; 01 (một) quần kaki lửng màu đỏ. Xét thấy đây là trang phục bị cáo Lê Văn Đ mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có giá trị, bị cáo không đồng ý nhận lại. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 1 USB lưu trữ hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi phạm tội được lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn Đ 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) chiếc áo thun ngắn tay màu trắng; 01 (một) quần kaki lửng màu đỏ.

(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/2/2025 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Lê Văn Đ chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Q.10; (2)
  • - Công an TP.HCM CSQ.10; (2)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 39/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Đời phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger