Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS - ST.

Ngày: 12 - 11 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Rực.

Ông Thạch Hoàng Tha.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Minh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn O, sinh ngày 01/01/1959; nơi sinh: Tại thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Đất T, sinh năm 1917 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1925 (đã chết); có vợ là bà Lâm Thị T1, sinh năm 1958; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1983; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/8/2025 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Bà Lâm Thị Sa R, sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ (có mặt).

- Người làm chứng:

Bà Thái Thị Mộng X, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp E, xã L, thành phố Cần Thơ (có mặt).

Bà Lâm Thị T1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Phan Văn O là người không có tiền án, tiền sự, không có nghề nghiệp ổn định. Bị cáo O thường xuyên đi uống cà phê vào lúc hơn 04 giờ sáng tại quán của bà Thái Thị Mộng X tại ấp E, xã L, thành phố Cần Thơ.

Vào khoảng 05 giờ ngày 31/3/2025, khi đang ngồi uống cà phê, bị cáo O thấy bà Lâm Thị Sa R (tên thường gọi V, là người phụ bán quán cho bà X) để điện thoại đang sạc trên kệ gần chỗ bị cáo O ngồi. Lợi dụng lúc bà R đi ra ngoài, không ai để ý, nên bị cáo O đi đến kệ để điện thoại đang sạc, dùng tay phải cầm điện thoại lên, tay trái rút chui sạc điện thoại, rồi tay phải cầm điện thoại bỏ vào túi quần bên phải của bị cáo O. Sau đó, bị cáo O quay lại chỗ ngồi. Đến khoảng 05 giờ 20 phút, bị cáo O rời khỏi quán, lên xe mô tô biển kiểm soát 94H2-6306 chạy về nhà ở Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ và cất giấu ngoài bụi cỏ bên trái nhà bị cáo O.

Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, bà Lâm Thị Sa R kiểm tra thì phát hiện bị mất điện thoại nhãn hiệu REDMI 13, màu đen, loại máy cảm ứng đã qua sử dụng đang sạc pin ở trên kệ tại khu vực nấu ăn tại quán cà phê của bà X. Sau đó, bà X trích xuất camera thì phát hiện bị cáo Phan Văn O (X thường gọi là Dượng Ú) đã lấy trộm điện thoại của bà R. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/3/2025, bà X đến nhà gặp bị cáo O yêu cầu trả lại điện thoại đã lấy trộm nhưng bị cáo O không thừa nhận rồi điều khiển xe chạy đi rước cháu ngoại đi học. Sau đó, bà Lâm Thị T1 (vợ bị cáo O) biết sự việc. Khi O rước cháu ngoại đi học về thì bà T1 nói với bị cáo O là bà X biết bị cáo O lấy trộm điện thoại nên bị cáo O đi ra ngoài bụi cỏ lấy điện thoại đưa cho bà T1 đi đến quán cà phê của bà X trả lại điện thoại. Sau đó, sự việc được bà Lâm Thị Sa R trình báo đến Công an.

Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 09/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt một cái điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi 13 màu đen, loại cảm ứng, đã qua sử dụng, có tổng giá trị là 3.501.000 đồng.

Xét thấy có đủ căn cứ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phan Văn O về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá và kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số: 01/CT-VKSV9 ngày 10/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ đã truy tố bị cáo Phan Văn O về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phan Văn O đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên.

Tại phiên tòa bị hại Lâm Thị Sa R đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự xét xử theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phan Văn O đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Phan Văn O là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì muốn có điện thoại để sử dụng nên vào khoảng 05 giờ ngày 31/3/2025, bị cáo Phan Văn O khi đang ngồi uống cà phê ở quán bà Thái Thị Mộng X, tọa lạc ấp E, xã L, thành phố Cần Thơ thấy điện thoại của bà Lâm Thị Sa R đang sạc điện thoại trên kệ gần chỗ bị cáo ngồi nên bị cáo lén lút lấy trộm một điện thoại nhãn hiệu REDMI 13 màu đen, loại máy cảm ứng, đã qua sử dụng với tổng giá trị 3.501.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo Phan Văn O là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm pháp luật đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác nên cần phải xử lý nghiêm. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn O phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn O từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng đến 24 tháng. Phạt bị cáo Phan Văn O 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12 tháng 11 năm 2025).

Giao bị cáo Phan Văn O cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Phan Văn O thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Phan Văn O cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét do bị hại đã nhận được tài sản nên không yêu cầu. Về xử lý vật chứng: Một điện nhãn hiệu REDMI 13 màu đen, loại máy cảm ứng, đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự trả lại cho bị cáo O: Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu KITOSU, màu sơn đen, có biển kiểm soát 94H2-6306, dung tích 107cm³, đã qua sử dụng và Một giấy đăng ký mô tô, xe máy biển số đăng ký 94H2- 6306 tên chủ xe Phan Hồng K, sinh năm 1979, địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Về án phí: Do bị cáo O là người cao tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo O được miễn án phí theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phan Văn O: Bị cáo nhận thấy hành vi mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng bà Lâm Thị Tuyết . Xét sự vắng mặt của bà T1 không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và bị hại không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ vào các Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Tại phiên toà, bị cáo Phan Văn O khai nhận: Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 05 giờ ngày 31/3/2025, tại quán cà phê của bà Thái Thị Mộng X, tọa lạc ấp E, xã L, thành phố Cần Thơ bị cáo O đã lén lút lấy trộm một điện thoại nhãn hiệu REDMI 13 màu đen, loại máy cảm ứng, đã qua sử dụng với tổng giá trị 3.501.000 đồng.

Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[4]. Nhận định về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 3.501.000 đồng mà bị cáo Phan Văn O đã thực hiện phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện là người bình thường có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã thực hiện cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng số: 01/CT-VKSKV9 ngày 10/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ truy tố bị cáo Phan Văn O về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân và gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, cũng xem xét nguyên nhân phạm tội hành vi của bị cáo O chỉ mang tính bộc phát, nhất thời nên không kiểm soát được hành vi của bản thân đã trộm cắp tài sản của bị hại.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phan Văn O nhận thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản đã kịp thời thu hồi trả lại cho bị hại); bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người cao tuổi, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

[6]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; mặt khác, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, nếu cho bị cáo hưởng án treo thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra bị cáo O phải nuôi vợ bị cáo đang nằm viện nên bắt bị cáo đi chấp hành thì không ai chăm sóc cho vợ bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước ta mà cố gắng tự cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

[7]. Về xử lý vật chứng: Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố C và Phòng THADS khu vực 9, THADS Thành phố Cần Thơ gồm: Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu KITOSU, màu sơn đen, có biển kiểm soát 94H2-6306, dung tích 107cm3, đã qua sử dụng; Một giấy đăng ký một tô, xe máy biển số đăng ký 94H2- 6306 tên chủ xe Phan Hồng K, sinh năm 1979, địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Xét thấy, vật chứng trên là tài sản của bị cáo và tại phiên tòa bị cáo yêu cầu được nhận lại nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự: Trả lại cho bị cáo một chiếc xe mô tô nhãn hiệu KITOSU, màu sơn đen, có biển kiểm soát 94H2-6306, dung tích 107cm³, đã qua sử dụng và một giấy đăng ký mô tô, xe máy biển số đăng ký 94H2- 6306 tên chủ xe Phan Hồng K, sinh năm 1979, địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Đối với một điện thoại nhãn hiệu REDMI 13 màu đen, loại máy cảm ứng, đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã được trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lâm Thị Sa R đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Phan Văn O là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phan Văn O.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Phạt bị cáo Phan Văn O 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12 tháng 11 năm 2025).

Giao bị cáo Phan Văn O cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Phan Văn O thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Phan Văn O cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo một chiếc xe mô tô nhãn hiệu KITOSU, màu sơn đen, có biển kiểm soát 94H2-6306, dung tích 107cm³, đã qua sử dụng; Một giấy đăng ký mô tô, xe máy biển số đăng ký 94H2- 6306 tên chủ xe Phan Hồng K, sinh năm 1979, địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Phan Văn O là người cao tuổi và tại phiên tòa đề nghị miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

- Bị cáo;

- Bị hại;

- VKSND khu vực 9 – Cần Thơ;

- Công an Thành phố Cần Thơ;

- Phân trại tạm giam Trần Đề thuộc Trại Tạm giam số 2 - Công an Thành phố Cần Thơ;

- THADS Thành phố Cần Thơ;

- VKSND Thành phố Cần Thơ;

- TAND Thành phố Cần Thơ (P.GĐ, KT, TT &THA);

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS - ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn O phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Phạt bị cáo Phan Văn O 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12 tháng 11 năm 2025). Giao bị cáo Phan Văn O cho Ủy ban nhân dân xã Long Phú, thành phố Cần Thơ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Phan Văn O thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Phan Văn O cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger