Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN E

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 39/2025/HS-ST

Ngày: 10 - 6 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Tại điểm cầu trung tâm (Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện E):

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Ksơr Y Nai

Ông: Lương Tú Huân

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện E.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên toà: Ông Trịnh Văn Hai - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần (Phân trại tạm giam khu vực huyện E, tỉnh Đăk Lăk):

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện E;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên tòa: Ông Hồ Quang Phúc - Kiểm sát viên;

Cán bộ chiến sỹ Phân trại tạm giam khu vực huyện E tham gia hỗ trợ tư pháp tại phiên tòa.

Ngày 10/6/2025 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện E mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

La Văn Th; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21 tháng 10 năm 1985, tại tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên cha: La Văn H (đã chết); Họ tên Mẹ: Đinh Thị H1 - sinh năm 1957; bị cáo có vợ là Nông Thị Đ, sinh năm 1988; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/02/2025, đến ngày 21/02/2025, chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Lê Đình T - sinh năm 1984 - Vắng mặt;

Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 18/02/2025, La Văn Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 81T5-0050, đi từ tỉnh Gia Lai đến khu vực chợ xã W, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để tìm mua ma túy thì gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Qua nói chuyện, Th biết người này có bán ma túy, loại thuốc phiện nên hỏi mua 1.000.000 đồng, người này nhận tiền và đưa lại cho Th 01 gói giấy bên trong có 01 gói nylon màu xanh chứa chất dẻo màu đen, biết đó là ma túy nên Th cất giấu vào trong mũ bảo hiểm rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi Th đang điều khiển xe mô tô đi trên đoạn đường Hồ Chí Minh thuộc, thôn B, xã E, huyện E thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ bên trong mũ bảo hiểm của Thi đang đội trên đầu 01 gói giấy bên trong có 01 gói nylon màu xanh chứa chất dẻo màu đen, Th khai nhận chất dẻo màu đen nêu trên là ma túy loại thuốc phiện, Th mua về để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng và niêm phong theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 346/KL-KTHS, ngày 21/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất dẻo màu đen bên trong 01 gói nylon màu xanh được niêm phong gửi giám định là ma tuý, khối lượng 3,2068 gam, loại Thuốc phiện. Số thuốc phiện còn lại sau giám định là 2,9995 gam.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện E truy tố đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã đưa ra các chứng cứ buộc tội, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS, ngày 20/5/2025. Đồng thời đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo La Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Xử phạt bị cáo La Văn Th từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 18/02/2025.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:

Tuyên tịch thu tiêu hủy 2,9995 gam Thuốc phiện và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật còn lại sau giám định

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Taurus, biển số 81T5-0050, số khung 6S10AY072560, số máy 16S1072561, tạm giữ khi bắt quả tang, là tài sản riêng của La Văn Th, bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy.

Đối với người đàm ông bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân ai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã hối hận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đăk Lăk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/02/2025, tại khu vực thôn 2A, xã E, huyện E, La Văn Th đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, khối lượng 3,2068 gam thuốc phiện thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, do ý thức coi thường pháp luật và để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện E truy tố bị cáo La Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

Tại điểm b, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

b) Nhựa thuốc phiện có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;”.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đây cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn. Vì vậy, để kịp thời trừng trị kẻ phạm tội và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp nên việc nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, khi áp dụng hình phạt cũng cần cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với người đàn ông đã có hành vi bán mua túy cho La Văn Th, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.

[4]. Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu tiêu hủy 2,9995 gam thuốc phiện còn lại sau giám định đã được niêm phong.

Đối với chiếc xe mô tô YAMAHA. Loại Taurus, biển số 81 T5 - 0500, số khung 6S10AY072560, số máy 16S1072561 thuộc sở hữu riêng của La Văn Th, bị cáo dùng làm phương tiện đi mua thuốc phiện nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[5]. Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo La Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo La Văn Th 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 18/02/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 2,9995 gam thuốc phiện còn lại sau giám định đã được niêm phong;

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô YAMAHA. Loại Taurus, biển số 81 T5 - 0500, số khung 6S10AY072560, số máy 16S1072561 mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội.

Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lưu tại hồ sơ.

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
  • - Viện KSND huyện E;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Đăk Lăk;
  • - Bộ phận HSNV CA tỉnh Đăk Lăk;
  • - Chi cục THADS huyện E;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 39/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LVT tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger