Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS-ST

Ngày: 06-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Huy Hùng.

  • - Các Hội thẩm nhân dân: ông Thái Quang Định và bà Hoàng Thị Thanh Huyền.

  • - Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thuỳ Dung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Bích Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Minh Văn T, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 06/02/1973 tại T, Hải Dương. Nơi cư trú: tổ G, khu H, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: hưu trí; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Minh Văn N (đã chết) và bà Hoàng Thị B (đã chết); vợ: Đỗ Thị P; con: có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2015; tiền án; tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 18/3/2025 tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q - Phân trại tạm giam Uông Bí đến ngày 27/3/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: chị Hoàng Thanh T1, sinh năm: 2006; Nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: tổ D, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Chị Lý Gia H, sinh năm 2006; Nơi ĐKHKTT: thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: tổ D, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

2

  1. Anh Lê Văn L, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ D, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 18/3/2025, Minh Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát (BKS) 14Y1- 000.02 đi vào ngõ B đường B, thuộc tổ D, khu N, phường N, thành phố U quan sát thấy nhà trọ của anh Lê Văn L, cổng mở và không có người trông coi. T nảy sinh ý định vào trong nhà trọ xem có ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp đem bán lấy tiền ăn tiêu. T đỗ xe rồi đi vào bên trong quan sát tầng 1 thấy các phòng đều đóng cửa, không có tài sản gì. T tiếp tục đi lên tầng 2 thì thấy phòng trọ của chị Hoàng Thanh T1 và chị Lý Gia H thuê ở, cửa mở, trong phòng không có ai. T lẻn vào phòng quan sát, phát hiện thấy 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP của chị T1 để trên giường, T liền đến lấy chiếc máy tính giấu vào trong người rồi nhanh chóng đi xuống, điều khiển xe mô tô bỏ đi. Trên đường đi tìm nơi tiêu thụ, T nhận thấy hành vi trộm cắp chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác khó mà trốn thoát nên đã đến Công an phường N, thành phố U đầu thú, giao nộp lại chiếc máy tính.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 20/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố U, kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP 14S EPO112TU 8C5L1PA màu bạc trị giá 8.833.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 1393/CT-VKSUB ngày 14/5/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo về tội: “trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Minh Văn T phạm tội: “trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Minh Văn T từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng. Giao bị cáo cho UBND phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo; trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: theo khoản 5 Điều 173 BLHS quy định bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, tài sản đã được hoàn trả nguyên vẹn cho bị hại nên không cần thiết

3

áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về bồi thường dân sự và xử lý vật chứng: đã được giải quyết trong giai đoạn điều tra, nên không đề cập.

Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc tội danh: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau, với lời khai của bị hại, của những người làm chứng, với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú do Công an phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh lập hồi 23 giờ 00 phút ngày 18/3/2025, với Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 20/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố U và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: khoảng 09 giờ 03 phút, ngày 18/3/2025, tại phòng trọ thuộc tổ D, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Minh Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP 14S EP0112TU 8C5L1PA màu bạc trị giá 8.833.000 đồng của chị Hoàng Thanh T1. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến cộng đồng. Mặc dù bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không chịu lao động chân chính để kiếm tiền tiêu xài, mà thích hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

-Tình tiết tăng nặng: không có.

4

-Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo là người có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú giao nộp tài sản trộm cắp, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo đã nghỉ hưu mức thu nhập thấp, tài sản đã được hoàn trả nguyên vẹn cho bị hại nên không áp dụng.

[4] Đối với Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 51/HSST-LCĐKNCT và quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 77/2025/HSST - QĐTHXC cùng ngày 15/5/2025 cần được hủy bỏ.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại chị Hoàng Thanh T1 đã nhận lại được tài sản và không còn yêu cầu gì khác nên không xem xét đề cập.

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 14Y1-000.02, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Đỗ Ngọc T2 cho chị Đỗ Thị P (vợ của bị cáo) làm phương tiện đi lại. Chị P không biết T sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị P; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại, nên không đề cập.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: bị cáo Minh Văn T phạm tội: “trộm cắp tài sản”.

    - Xử phạt: Minh Văn T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

5

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đôi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

  1. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 51/HSST-LCĐKNCT và quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 77/2025/HSST - QĐTHXC cùng ngày 15/5/2025 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Minh Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.

  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND -TP. Uông Bí;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ninh (PC10)
  • - Phòng hồ sơ PV 06 Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Uông Bí;
  • - UBND phường Cao Thắng, TP Hạ Long;
  • - Cục quản lý xuất nhập cảnh - BCA
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Minh Văn T-TCTS 2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger