|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 39/2025/HS-PT Ngày: 20/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền
- - Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Ánh
- Ông Dương Mạnh Chiến
Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Minh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thành Long, Kiểm sát viên.
Ngày 20/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/TLPT-HS ngày 28/4/2025 đối với bị cáo Vũ Đức T do có kháng cáo bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HSST ngày 19/3/2025 của Toà án nhân dân thành phố Móng Cái.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Vũ Đức T, tên gọi khác: không; sinh ngày 15 tháng 9 năm 1982, tại T, Hải Dương; nơi đăng ký thường trú: Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Q, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: khu D, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: đảng viên Đ2 thuộc Chi bộ Vũ trang – Kiểm soát hành chính Đảng bộ Đồn Biên phòng H1; ngày 26/8/2024 ra quân, ngày 30/9/2024 bị khai trừ khỏi Đảng; con ông Vũ Đức C và bà Phạm Thị K; vợ: Phạm Trần Thùy L; con: 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/8/2024. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị: Đỗ Xuân H, Chíu Thanh C1, Phạm Văn Đ, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 5 năm 2024, tại thành phố H, Vũ Đức T được một người bạn xã hội (không xác định được lai lịch) cho 01 túi ma tuý “nước vui”. T mang về cất giấu mục đích khi nào có nhu cầu sẽ sử dụng. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/8/2024, Đỗ Xuân H gọi điện cho Vũ Đức T rủ đến bar “Six” thuộc phường T, thành phố M cùng uống bia. Khoảng 30 phút sau, T lái xe ô tô đến nhưng không vào bar mà rủ H đi ra ngoài tìm địa điểm để uống bia và sử dụng ma túy; H đồng ý. Sau đó, T chở H đến thuê phòng 510 khách sạn “C" thuộc khu B, phường H (nay là phường T), thành phố M. Trước đó, T đã tự pha sẵn ma tuý “nước vui” cho vào 01 chai nhựa rồi sử dụng một ít. Trên đường đi, T đưa chai nhựa đã pha sẵn ma túy “nước vui” cho H. H cầm theo chai “nước vui” vào phòng khách sạn P thêm nước ngọt vào và rót ra cốc thủy tinh cho cả T và H sử dụng. Tiếp đó, H gọi điện rủ Lê Văn Tuấn A đến phòng khách sạn. Khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày, thì Tuấn A và bạn gái của Tuấn A tên T1 (chưa xác định được lai lịch) đến cùng sử dụng ma túy “nước vui”. Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, Tuấn A gọi điện rủ Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/6/2007, trú tại: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị, là bạn của Tuấn A đến phòng 510 chơi. Tại đây, H đưa cho Quỳnh N cốc có ma túy “nước vui” để Như uống, Như đưa cốc lên miệng nhưng không uống rồi lại đưa lại cho H. Sau đó, cả nhóm sử dụng hết ma tuý thì tất cả ra về.
Khoảng 02 giờ ngày 27/8/2024, khi T và H xuống đến sảnh khách sạn thì tiếp tục nảy sinh ý định mua ma tuý về sử dụng nên T liên hệ qua mạng xã hội Telegram hỏi mua được của 01 người nam giới 01 túi ma tuý “nước vui” và 01 túi ma tuý Ketamine với giá 4.500.000 đồng. T điều khiển xe ô tô chở H đến đoạn đường T thuộc khu C, phường K, thành phố M để giao dịch mua ma túy rồi quay lại phòng 510 khách sạn C2. Sau khi mua được ma túy, H pha ma túy nước vui vào chai nhựa cho H và T sử dụng. Sau đó, H liên hệ rủ bạn là Đỗ Thị D đến phòng khách sạn để cùng uống bia và sử dụng ma túy đồng thời H liên hệ với 01 nam thanh niên tên Đ1 để nhờ gọi thêm một nhân viên nữ đến phòng khách sạn để uống bia. Đ1 đồng ý và yêu cầu H đi đón Chíu Thanh C1. H điều khiển xe ô tô của T đi đón Chúc đến phòng 510 thì thấy D đã có mặt tại phòng. H thấy trên mặt kệ trong phòng ngủ khách sạn có 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 5.000 đồng (không biết của ai) nên đã đổ túi ma tuý Ketamine ra tờ tiền 5.000 đồng nghiền mịn ma tuý. Sau đó, H cuộn tờ tiền 10.000 đồng thành ống hút rồi đổ ma tuý đã nghiền mịn ra khay nhựa lấy ở quầy bar cho H, C1 và D thay nhau sử dụng cả ma tuý Ketamine và “nước vui”. T chỉ sử dụng “nước vui” không sử dụng ma túy Ketamine.
Khoảng 05 giờ cùng ngày, cả nhóm sử dụng hết ma tuý, nhưng C1 vẫn muốn tiếp tục sử dụng ma túy nên T bảo C1 tìm chỗ mua còn T sẽ trả tiền. Chúc liên hệ với Phạm Văn Đ để hỏi mua 02 gam ma túy Ketamine thì được Đương báo giá là 5.000.000 đồng. Chúc báo lại cho T thì T chuyển tiền qua tài khoản cho C1, C1 chuyển tiền cho Đ. Lúc này, Đ liên hệ với 01 người không rõ lai lịch, có tài khoản telegram tên “Ken”, sử dụng tài khoản ngân hàng “Vu Anh T2” để hỏi mua 03 túi Ketamine với giá 1.900.000 đồng/01 túi. Sau khi Đ chuyển khoản trả tiền, người này hướng dẫn Đương đến vị trí dưới chân cột biển báo ngõ A phố Y, thuộc phường K, thành phố M để lấy ma tuý. Theo chỉ dẫn, Đ đến thấy 03 túi Ketamine trong 01 vỏ kẹo nên tự lấy đi 01 túi Ketamine, còn lại 02 túi Ketamine, Đ báo cho C1 đến lấy. Sau đó, H điều khiển xe ô tô đến chở C1 đến vị trí trên để lấy ma túy mang về phòng 510 khách sạn. Tại đây, H tiếp tục đổ và đánh ma túy Ketamine khay nhựa màu đen cho H, D và C1 sử dụng.
Đến khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, H và D sang phòng 502, còn T và C1 ở lại phòng 510 để ngủ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T gọi H sang phòng 510 để dọn dẹp số dụng cụ sử dụng ma túy để T trả phòng đi về. H đi từ phòng 502 sang phòng 510 cho nốt số ma túy Ketamine còn trong khay nhựa vào tờ tiền 5.000 đồng rồi cầm theo cả ống hút đi cùng với C1 sang phòng 502. Tại phòng 502, H và C1 sử dụng nốt số Ketamine còn lại rồi nằm nghỉ tại phòng. T xuống sảnh khách sạn trả phòng thì gặp lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện, tạm giữ, thu giữ như sau:
- Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Đỗ Xuân H: 01 tờ tiền 10.000 đồng (M1) và 01 tờ tiền 5.000 đồng (M2) đều bám dính chất bột màu trắng dạng vết nghi là ma túy, 01 tờ tiền 10.000 đồng (M3) được cuộn tròn thành dạng ống hút có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy;
- Thu giữ bên trên mặt kệ kê sát bên trái đầu giường ngủ theo hướng nhìn từ cửa vào của phòng 510: 03 vỏ túi nilon trong suốt, miệng các túi đều có khóa kẹp nhựa, kích thước các túi khoảng (3 x 3)cm, bên trong các túi đều bám dính chất bột màu trắng dạng vết nghi là ma túy; (M4,M5,M6)
- Thu giữ ở ngăn quầy bar cạnh cửa ra vào của phòng 510: 01 khay nhựa hình chữa nhật màu đen, kích thước khoảng (46x36x3)cm, bên trên mặt khay bám dính chất bột màu trắng dạng vết nghi ma tuý; (M7)
- Thu giữ bên dưới bàn uống nước kê trong phòng khách của phòng 510: 01 chai nhựa loại 330ml, bên trong chai chứa chất lỏng màu vàng nghi là ma túy; (M8)
- Thu giữ trên mặt kệ kê sát bên trái đầu giường ngủ theo hướng nhìn từ cửa vào của phòng 510: 01 chiếc cốc thủy tinh hình trụ tròn trong suốt, cao khoảng 8cm, đường kính đáy khoảng 6,5cm, đường kính miệng khoảng 7cm, bên trong chứa cặn màu vàng nghi là ma túy; (Mở niêm phong thấy không bám dính chất gì);
- Tạm giữ của Vũ Đức T: 01 chiếc loa màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu tím đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số: 0912.053.522;
- Tạm giữ của Đỗ Xuân H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu tím đã qua sử dụng, bên trong không lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu vàng đã qua sử dụng, màn hình và mặt lưng đều bị nứt vỡ, bên trong lắp 01 sim số: 0352.751.406;
- Tạm giữ của Chíu T: 01 điện thoại di động iPhone màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số: 0343.787.214;
- Tạm giữ của Đỗ Thị D: 01 điện thoại di động iPhone màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số: 0399.269.964; 01 điện thoại di động iPhone màu xám đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số: 0967.331.878;
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/8/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố M làm nhiệm vụ tại khu B, phường T, thành phố M, bắt quả tang Phạm Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 1,006 gam chất tinh thể màu trắng, được đựng trong 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng để trong cốp xe ô tô, Đ khai nhận là ma tuý Ketamine, Đ cất giấu mục đích vừa để sử dụng vừa để bán cho người khác kiếm lời. Tạm giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số: 0339.561.882 và 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF E34, màu xanh, biển số: 14F-011.42.
Bản Kết luận giám định số 1393/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M7 là ma tuý; loại Ketamine, dạng vết, không xác định được khối lượng; Tìm thấy chất ma tuý loại MDMA trong 01 chai nhựa loại 330ml, bên trong có vết chất lỏng màu vàng ký hiệu M8; Không tìm thấy chất ma tuý thường gặp (Methamphetamine, MDMA, Ketamine...) trong 01 chiếc cốc thuỷ tinh gửi giám định.
Bản kết luận giám định số 1400/KL-KTHS ngày 05/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: tìm thấy ma tuý Methamphetamine, MDMA và Dehydronorketamine trong mẫu nước tiểu thu của Đỗ Xuân H, Chíu Thanh C1 và Đỗ Thị D; Tìm thấy ma tuý Methamphetamine, MDMA trong mẫu nước tiểu thu của Vũ Đức T; Tìm thấy ma tuý MDMA trong mẫu nước tiểu thu của Lê Văn Tuấn A; không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị Quỳnh N.
Bản Kết luận giám định số 1384/KL-KTHS ngày 02/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn Đ gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, khối lượng là 1,006 gam.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 13/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái quyết định: Căn cứ các điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Đức T: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân H 07 năm 04 tháng tù, bị cáo Chíu Thanh C1 04 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Văn Đ 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 21/3/2025 bị cáo Vũ Đức T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đức T giữ nguyên quan điểm kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Đức T. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Đức T làm trong hạn luật định nên chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Đức T đã khai nhận hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của của các bị cáo khác đã bị xét xử trong cùng vụ án, lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, kết luận giám định, sao kê tài khoản ngân hàng.... Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử bị cáo Vũ Đức T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Quá trình các bị cáo sử dụng ma túy chia làm 03 giai đoạn:
Giai đoạn 1 từ thời điểm 0 giờ ngày 27/8/2024: sau khi được H rủ đến quán bar "" thuộc phường T, thành phố M cùng uống bia nhưng Vũ Đức T không đến mà rủ H đi tìm chỗ uống bia và cùng sử dụng ma túy. T thuê phòng 510 khách sạn “Central”. Ma túy trước đó T đã pha sẵn ma túy “nước vui” vào chai nhựa, tại phòng khách sạn T và H cùng sử dụng. Tiếp đó, H gọi điện rủ Lê Văn Tuấn A đến phòng khách sạn. Khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày, thì Tuấn A và bạn gái của Tuấn A tên T1 đến cùng sử dụng ma túy “nước vui”. Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, Tuấn A gọi điện rủ Nguyễn Thị Quỳnh N đến nhưng Như không sử dụng ma túy. Sau đó, cả nhóm sử dụng hết ma tuý thì tất cả ra về. Tại giai đoạn này, khởi xướng ban đầu là Vũ Đức T, T là người cung cấp ma túy, H là người tích cực rủ những người khác đến để cùng sử dụng trái phép ma túy nên vai trò của bị cáo T cao hơn cáo H.
Giai đoạn 2: Khoảng 02 giờ ngày 27/8/2024, T và H tiếp tục nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên T đã liên hệ mua 01 túi ma tuý “nước vui” và 01 túi ma tuý Ketamine với giá 4.500.000 đồng. Mua được ma túy, tại phòng 510 khách sạn C2, H pha ma túy nước vui vào chai nhựa cho H và T sử dụng. Sau đó, H rủ bạn là Đỗ Thị D đến để cùng uống bia và sử dụng ma túy đồng thời H liên hệ với 01 nam thanh niên tên Đ1 để nhờ gọi thêm một nhân viên nữ đến phòng khách sạn để uống bia. H trực tiếp đi đón Chíu Thanh C1 theo yêu cầu của Đ1. H nghiền mịn ma tuý, cuộn tờ tiền thành ống hút rồi đổ ma tuý đã nghiền mịn ra khay nhựa lấy ở quầy bar cho H, C1 và D thay nhau sử dụng cả ma tuý Ketamine và “nước vui”. T chỉ sử dụng “nước vui” không sử dụng ma túy Ketamine. Như vậy, tại giai đoạn 2, vai trò của H cao hơn vai trò của T khi trực tiếp gọi Chúc, đón C1, nghiền mịn ma túy, chuẩn bị công cụ, phương tiện để cả nhóm sử dụng trái phép chất ma túy.
Giai đoạn 3: Khoảng 05 giờ cùng ngày, do Chúc có nhu cầu tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên T đã chuyển khoản 5.000.000 đồng để C1 thực hiện việc mua ma túy trái phép 02 gam ma túy Ketamine của Phạm Văn Đ. Sau đó H điều khiển xe ô tô đến chở C1 đến vị trí Đ báo để lấy ma túy mang về phòng 510 khách sạn. Tại đây, H tiếp tục đổ và đánh ma túy Ketamine khay nhựa màu đen cho H, D và C1 sử dụng. T không sử dụng ma túy Ketamine. Như vậy, tại giai đoạn 3, bị cáo T, H, C1 có vai trò ngang nhau trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, T cung cấp tiền, Chúc chủ động liên hệ mua, H tiếp tục đưa C1 đi lấy ma túy, đánh K1, chuẩn bị công cụ cho H, C1, D sử dụng.
Như vậy, xem xét toàn diện quá trình các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: vai trò của bị cáo T và H là ngang nhau, tiếp sau đó là vai trò của bị cáo C1.
Bị cáo T nguyên là quân nhân phục vụ trong Q hơn 20 năm; trong quá trình công tác có thành tích xuất sắc được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì; gia đình có truyền thống cách mạng; bố bị cáo là người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc màu da cam, được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 6730/QĐ-SLĐTBXH ngày 16/11/2020 của Sở Lao động Thương binh và xã hội tỉnh H, được tặng thưởng huy hiệu 55 năm tuổi Đảng; bản thân bị cáo hiện nay bị tổn thương mắt trái, đã được phẫu thuật múc nội nhãn, bỏ nhãn cầu, đặt mắt giả, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 52%; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS nên có căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, giảm nhẹ một phần hình phạt, xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.
[4] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Vũ Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Đức T. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo.
[1] Tuyên bố: bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Vũ Đức T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2024.
[2] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án
Bị cáo Vũ Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Huyền |
Bản án số 39/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức Trường
