Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS-PT

Ngày: 01 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu.

Ông Đào Trọng Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Huỳnh Văn T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Văn T, sinh năm 1996 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Cơ khí; Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Huỳnh Văn H; Mẹ: Trần Thị T1; Vợ: Liên Thị Bích T2 (không đăng ký kết hôn) và có 01 người con sinh năm 2018; Tiền sự: không.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2020/HS-ST ngày 16/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xử phạt Huỳnh Văn T 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2022.

Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 04/2014/HS-PT ngày 23/01/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xử phạt Huỳnh Văn T 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 171/2013/HS-PT ngày 12/12/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tội “Cướp giật tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 26 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 05/02/2015.

Bị bắt tạm giam ngày 04/10/2024. (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 03/10/2024, Huỳnh Văn T điều khiển xe mô tô màu xanh không có biển số, trên dàn áo có chữ Ware@, bên trong cốp xe T chuẩn bị sẵn 01 cây tua vít; 01 cây búa có cán nhựa màu xanh; 01 cây cờ lê màu xanh đi từ xã Đ, huyện C qua xã L, huyện Đ. Khi đang đi trên đường T, T phát hiện nhà bà Nguyễn Thị Ngọc T3 tọa lạc ở ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nhà khóa cửa và không có người ở nhà nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.

T lấy búa, cờ lê và tua vít trong cốp xe ra mở lưới B40 bên hông nhà bà T3, sau đó, T dùng cờ lê phá ổ khóa cửa rồi đi vào bên trong nhà. T nhìn thấy trong phòng khách có 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Attila màu đỏ biển số 72F1-182.20, do không có ý định lấy xe nên T đi vào phòng ngủ thứ hai lục tìm nhưng không có tài sản có giá trị, chỉ thấy trong hộc tủ có chìa khoá của xe A nên T tiếp tục đi qua phòng ngủ đầu tiên, T tìm thấy trong hộp giấy gần giường ngủ có 01 hộp nhựa màu đỏ bên trong có 06 sợi dây chuyền bằng kim loại, 01 lắc bằng kim loại, 02 mặt dây chuyền bằng kim loại và 03 chiếc nhẫn bằng kim loại nên đã lấy hộp nhựa màu đỏ cất vào túi quần bên phải. Sau đó, T đi theo lối cũ ra ngoài và lấy xe chạy về đập Đ, khi T kiểm tra các trang sức vừa trộm được thì phát hiện là hàng giả nên T quyết định quay lại nhà bà T3 lấy chiếc xe mô tô trên.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô màu xanh không biển số tới nhà bà T3 rồi giấu xe này vào khu vực vườn tràm phía trước nhà bà T3, T đi bộ vào nhà bà T3 theo lối cũ vào phòng ngủ thứ hai lấy chiếc chìa khoá của xe mô tô hiệu SYM loại Attila nói trên rồi đi ra phòng khách mở khoá dắt xe ra ngoài, T điều khiển xe trộm được chạy thẳng về huyện C và đem xe cất giấu tại vườn tiêu gần nhà mình. Sau đó, T đi bộ ra đường và nhờ người đi đường (chưa rõ nhân thân, lai lịch) chở T đến khu vực vườn tràm gần nhà bà T3 để lấy chiếc xe mô tô của T đã cất giấu trước đó chạy về lại C. Khi về đến vườn tiêu ở huyện C, T điều khiển xe mô tô hiệu SYM loại Attila trộm được đi tìm nơi tiêu thụ thì T gặp một người bạn tên T4 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nên nhờ T4 bán dùm xe này, T4 đồng ý. T4 dẫn T đến nhà ông Nguyễn Ngọc T5 ở gần nhà của T để bán xe. Đến nơi, T đứng ngoài còn T4 điều khiển xe mô tô hiệu SYM loại Attila vào bán cho ông T5 với giá 900.000 đồng, sau khi bán xong T4 thông báo lại cho T biết bán xe được số tiền 700.000 đồng. T cho T4 100.000 đồng và lấy 600.000 đồng.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T về lại nhà và giấu hộp đựng trang sức mà T trộm cắp được ở nhà bà T3 vào bên trong 01 giỏ xách màu đen để dưới đất bên hông nhà rồi đi ngủ. Đến 05 giờ ngày 04/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành làm việc đối với Huỳnh Văn T. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

* Tại kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Attila màu đỏ, biển số 72F1-182.20 (SM: VMVUADD011837; SK: RLGKA11DDDD011837) có giá trị còn lại là 3.000.000 đồng”.

* Tại chứng thư giám định số 00622/N1.24/TD ngày 20/11/2024 của Trung tâm K1 chất lượng 3 xác định:

  • - 01 sợi dây kim loại dạng xích màu vàng dài 50cm là sợi dây chuyền bằng hợp kim đồng lớp phủ có chứa V (A1) và N (Ni), trong đó Đ (Cu) khoảng 87% và K (Z) khoảng 13%.
  • - 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 46,5cm là sợi dây chuyền bằng hợp kim bạc, trong đó B (A) khoảng 95%.
  • - 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 47cm có mặt kim loại hình chữ nhật màu trắng có chữ NIKE WOMEN'S, có dây chuyền và mặt dây chuyền bằng hợp kim bạc. Trong đó dây chuyền có Bạc (A) khoảng 93,9%, Đ (Cu) 6,03% và K (Zn) 0,04%; khoen nối có Bạc (A) khoảng 93,5%, Đ (Cu) 6,44% và K (Zn) 0,03%; khoá có Bạc (A) khoảng 95,6%, Đ (Cu) 4,19% và K (Zn) 0,20%; mặt có Vàng (A) 0,11%, B (A) khoảng 93,8%, Đ (Cu) 5,47% và K (Z) 0,61%;
  • - 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 45cm là sợi dây chuyền bằng hợp kim bạc lớp phủ có chứa R và P trong đó B (A) khoảng 90%.
  • - 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 46cm có mặt kim loại hình tròn đính đá màu trắng là sợi dây chuyền bằng hợp kim đồng. Dây và lớp phủ có chứa V (A) và P (Pd) trong đó Đ (Cu) khoảng 91%. Mặt, lớp phủ có chứa R (R) và P (Pd) trong đó Đ (Cu) khoảng 90%.
  • - 01 sợi dây kim loại dạng xích màu vàng dài 88cm là sợi dây chuyền có chứa nguyên tố chủ yếu là sắt, lớp phủ có chứa đồng (Cu) trong đó sắt (F) khoảng 95%.
  • - 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 16cm là lắc bằng thép không gỉ trong đó S (F) khoảng 70%, C (C) khoảng 18%, N (N) khoảng 8% và Đ (Cu) khoảng 2%.
  • - 01 mặt kim loại màu trắng có chữ TC có đính đá kích thước 2,2cm x 4cm là mặt dây chuyền bằng hợp kim bạc trong đó B (A) khoảng 93%, C1 (C) khoảng 3%, Đ (Cu) khoảng 2% và K (Z) khoảng 1%.
  • - 01 mặt kim loại hình trái tim màu trắng sơn màu đỏ kích thước 1,6cm x 1,9cm là mặt dây chuyền bằng hợp kim bạc trong đó B (A) khoảng 93% và Đ (Cu) khoảng 7%.
  • - 01 nhẫn kim loại màu trắng hình con rắn là nhẫn bằng hợp kim cadmi lớp phủ có chứa Đ (Cu) trong đó C1 (C) khoảng 93%, Đ (Cu) khoảng 1% và K (Z) khoảng 5%.
  • - 01 nhẫn kim loại màu trắng có đường kính 1,8cm là nhẫn chứa nguyên tố chủ yếu là sắt trong đó S (F) khoảng 63%, M (M) khoảng 12% và N (N) khoảng 1%.
  • - 01 nhẫn kim loại màu trắng có đường kính 1,8cm là nhẫn chứa nguyên tố chủ yếu là sắt trong đó S (F) khoảng 63%, M (M) khoảng 11% và N (N1) khoảng 1% và Đ (Cu) khoảng 1%.

* Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: “01 sợi dây kim loại dạng xích màu vàng dài 50cm có giá trị còn lại là 30.000 đồng; 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 46,5cm có giá trị còn lại là 30.000 đồng; 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 47cm có mặt kim loại hình chữ nhật màu trắng có chữ NIKE WOMEN'S có giá trị còn lại là 35.000 đồng; 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 45cm có giá trị còn lại là 30.000 đồng; 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 46cm có mặt kim loại hình tròn đính đá màu trắng có giá trị còn lại là 30.000 đồng; 01 sợi dây kim loại dạng xích màu vàng dài 88cm có giá trị còn lại là 30.000 đồng; 01 sợi dây kim loại dạng xích màu trắng dài 16cm có giá trị còn lại là 30.000 đồng; 01 mặt kim loại màu trắng có chữ TC có đính đá kích thước 2,2cm x 4cm có giá trị còn lại là 20.000 đồng; 01 mặt kim loại hình trái tim màu trắng sơn màu đỏ kích thước 1,6cm x 1,9cm có giá trị còn lại là 20.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu trắng hình con rắn có giá trị còn lại là 20.000 đồng và 02 nhẫn kim loại màu trắng mỗi chiếc có đường kính 1,8cm có giá trị còn lại là 40.000 đồng. Tổng giá trị trang sức mà T trộm cắp được là 315.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản T đã chiếm đoạt của bị hại là 3.315.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Huỳnh Văn T 14 tháng tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 20/12/2024 bị cáo Huỳnh Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, không bị oan và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Huỳnh Văn T 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, phù hợp với nhân thân của bị cáo và nội dung vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nên có căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 03/10/2024, tại nhà của bà Nguyễn Thị Ngọc T3, địa chỉ: ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Huỳnh Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà T3 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Attila màu đỏ biển số 72F1-182.20 cùng các trang sức bằng kim loại. Tổng giá trị tài sản T đã chiếm đoạt của bà T3 là 3.315.000 đồng (Ba triệu ba trăm mười lăm ngàn đồng).

Như vậy, hành vi của bị cáo Huỳnh Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin được giảm án:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản chất tham lam, muốn hưởng thụ mà không phải lao động cố ý phạm tội cho thấy bị cáo xem thường pháp luật. Do đó cần phải xử nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 3 lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, hiện đang có 1 tiền án nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bản án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 14 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Không nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Huỳnh Văn T 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2024.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí: Bị cáo Huỳnh Văn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Phòng PV 06, 27 CA tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - TAND huyện Long Đất;
  • - VKSND huyện Long Đất;
  • - Công an huyện Long Đất;
  • - Chi cục THADS huyện Long Đất;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Trí Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-PT ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn Thắng - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger