Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 5 - 2025

“V/v tranh chấp về hôn nhân

và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, bà Nguyễn Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2025/TLST- HNGĐ ngày 10/3/2025 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/QĐXXST-HN ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc H, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà H trình bày: Bà và ông Vũ T tìm hiểu yêu thương chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn số 51, quyển 01/2007, ngày 27/7/2007 tại UBND phường V, thành phố C. Thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, do ông V cờ bạc, nên vợ chồng không còn tiếng nói chung, không thể hàn gắn. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông V. Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 29/3/2009 và Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 09/5/2014, bà H yêu cầu được nuôi các con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải giữa các đương sự, tuy nhiên ông V vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

Phát biểu của Kiểm sát viên:

  • +Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
  • +Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ (Niêm yết công khai) nhưng vắng mặt lần hai không có lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015.
  • +Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà H thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, do ông V cờ bạc bê tha, nên không còn tiếng nói chung. vợ chồng số ly thân hơn 01 năm nay. Quá trình giải quyết Tòa án tiến hành hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông V nhiều lần vắng mặt, không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H và bà H cương quyết ly hôn với ông V. Điều đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H

  • -Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có hai con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 29/3/2009 và Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 09/5/2014. Hiện cháu T1 đang sống với bà H và có nguyện vọng sống với bà H. Cháu N đang làm ở Bình Dương Tòa án giao cho ai nuôi dạy cháu cũng chấp nhận. Bà H yêu cầu được nuôi dạy các con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. Xét, để đảm bảo cuộc sống ổn định cũng như phù hợp nguyện vọng của các cháu nên giao con chung cho bà H nuôi dạy là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
  • -Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ phân tích trên, căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc H ly hôn với ông Nguyễn Văn V; Bà H được nuôi dạy hai con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 29/3/2009 và Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 09/5/2014; Ông V không cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

  1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông V. Bị đơn ông V có nơi cư trú thuộc khóm V, phường V, thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn số 51 ngày 26/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là phường V) nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Bà H khai: nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, ông V cờ bạc, nên vợ chồng không còn tiếng nói chung, không thể hàn gắn được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông V.

Theo kết quả xác minh của Ban khóm V, phường V, thành phố C được biết bà H, ông V có có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang. Hiện nay vợ chồng đi làm ăn xa thỉnh thoảng về địa phương thăm người thân. Ông V, bà H không sống chung với nhau khoảng 01 năm.

Tòa án nhiều lần thông báo cho ông V và tiến hành hòa giải để tạo điều kiện cho bà H và ông V hàn gắn tình cảm nhưng ông T2 vẫn vắng mặt và không trình bày ý kiến cho Tòa án, cho thấy ông V không có thiện chí, mong muốn hàn gắn tình cảm. Hơn nữa, vợ chồng đã không còn sống chung khoảng 01 năm nay nhưng vẫn không thể hàn gắn được, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của bà H, ông V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông V là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như đề nghị của Kiểm sát viên.

  1. Về con chung: Bà H, ông V có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 29/3/2009 và Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 09/5/2014, hiện T1 cháu đang sống cùng với bà H và có nguyện vọng được sống với bà H; cháu N hiện nay 16 tuổi đã tự đi làm nên không có ý kiến về việc sống chung với ông V, bà H. Xét để đảm bảo quyền và lợi ích cho con chưa thành niên, các cháu là nữ nên Hội đồng xét xử cần giao cho bà H tiếp tục nuôi dạy cho đến khi thành niên và có khả năng lao động.
  2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà H.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu nên không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Ngọc H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.
  2. Về con chung: Bà Phạm Ngọc H được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 29/3/2009 và Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 09/5/2014 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Ông Nguyễn Văn V không cấp dưỡng nuôi con.

Bà H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Phạm Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006188 ngày 10 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà H đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Văn V không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

  1. Giấy chứng nhận kết hôn số 51/HT, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã V, thành phố C cấp ngày ngày 26/7/2007 không còn giá trị pháp lý.
  2. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Ngọc H, ông Nguyễn Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP. Châu Đốc;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H khởi kiện ly hôn ông V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger