Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-5-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khiếu

Ông Trương Xuân Vũ

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13-5-2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng C.
  • Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K.
  • Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt)
  • Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Kiều
  • Địa chỉ ĐKNKTT: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Yên Bái.
  • Địa chỉ nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19-3-2025 và Bản tự khai ngày 02-4-2025, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hồng C trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn K đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L ngày 07-02-2012. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Mâu thuẫn đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả nên hai người đã sống ly thân từ năm 2014. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.

Về con chung, chị Nguyễn Thị Hồng C xác định hai người không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần tống đạt văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn K thông qua chị Nguyễn Thị K1, là chị gái hiện đang cư trú cùng địa chỉ với anh Nguyễn Văn K. Nhưng anh Nguyễn Văn K không có mặt theo triệu tập. Nên không có lời khai.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02-4-2025, chị Nguyễn Thị K1 cung cấp các nội dung: Chị là chị gái của anh Nguyễn Văn K, có địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã P, huyện L. Tuy nhiên do hiện nay do bố mẹ già yếu nên chị đã chuyển về sinh sống tại Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái.

Về quá trình chung sống: Anh Nguyễn Văn K với chị Nguyễn Thị Hồng C kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại xã T. Sau khi kết hôn đến năm 2014 thì mâu thuẫn do không hòa hợp nên đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi trong 10 năm nay. Hai người không có con chung, tài sản chung. Chị Nguyễn Thị K1 khẳng định đã nhận được các giấy tờ của Tòa án gửi cho anh Nguyễn Văn K và đã thông báo nội dung các giấy tờ của Tòa án cho anh Nguyễn Văn K được biết. Do anh Nguyễn Văn K nhiều lần không về để tham gia tố tụng theo giấy triệu tập nên chị đến Tòa án để báo cáo sự việc.

Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần tống đạt văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn K thông qua chị gái là chị Nguyễn Thị K1 nhưng không có mặt theo triệu tập nên không có lời khai.

Ngày 15-4-2025, Toà án nhân dân huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải. Do anh Nguyễn Văn K vắng mặt nên phiên hòa giải không thể tiến hành được. Ngày 20-4-2025, chị Nguyễn Thị Hồng C có đơn từ chối hoà giải. Nên vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được.

Ngày 19-5-2025, chị Nguyễn Thị Hồng C có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến theo nội dung đã trình bày tại bản tự khai.

Tại phiên toà, các đương sự đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của tố tụng dân sự. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng, đủ người tham gia tố tụng. Nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung, căn cứ trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ và lời khai do nguyên đơn cung cấp thấy rằng: Nguyên đơn trình bày vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn được nên đã sống ly thân. Lời khai của nguyên đơn về tình trạng vợ chồng phù hợp với nội dung do chị gái anh Nguyễn Văn K cung cấp, thể hiện hai người đã phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Nên có căn cứ để xác định mâu thuẫn của các đương sự đã rất trầm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để xử cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn. Về con chung: Do hai người không có con chung nên không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc chị Nguyễn Thị Hồng C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên toà, nguyên đơn có đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy Toà án căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và Trích lục kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện L cung cấp, thể hiện hai người đã đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 02 năm 2012. Nên việc kết hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng C và anh Nguyễn Văn K là hợp pháp. Tại đơn khởi kiện và biên bản ghi lời khai của nguyên đơn đều thể hiện hôn nhân của vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được và hai người đã ly thân từ năm 2014. Lời khai của nguyên đơn phù hợp với nội dung lời khai của chị Nguyễn Thị K1 là chị gái anh Nguyễn Văn K. Do đó có cơ sở để xác định hai người đã không cùng chung sống như vợ chồng mà đã ly thân. Vì vậy mục đích của hôn nhân giữa hai người không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Cần căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình để xử cho chị Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.

[2.2] Về con chung: Do hai người không có con chung nên Hội đồng xét xử đặt ra để giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Toà án không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Hồng C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số: AA/2024/0002316 ngày 25-03-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chị Nguyễn Thị Hồng C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hồng C, anh Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND huyện Lục Yên;
  • - Các đương sự
  • - THA Dân sự huyện Lục Yên;
  • - Niêm yết, UBND xã Tân Lập;
  • - Lưu: Hồ sơ,

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger