|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 5- 2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy
Bà Hà Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thủy– Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Chị Dương Thị B, sinh năm 1982;
Nơi thường trú trước khi đi nước ngoài: Xóm H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ hiện nay: Đài Loan (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn:
Anh Bàn Sinh L, sinh năm 1977; Nơi thường trú: Xóm H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Dương Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh B1 Sinh Lý kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Q (nay là thị trấn Q), huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngay sau khi kết hôn 03 ngày, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về cách nhìn nhận cuộc, quan điểm sống, lối sống và cách nuôi dạy con, dẫn đến tình cảm xa cách, không còn yêu thương nhau. Năm 2011, chị đi lao động tại Đài Loan, năm 2014 chị về thăm gia đình nhưng cũng không hàn gắn được mâu thuẫn, mặc dù đã được hai bên gia đình động viên hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị xác định tình cảm không còn, có tiếp tục kéo dài cuộc hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bàn Sinh L .
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Bàn Duy H, sinh ngày 31/7/2002. Hiện nay cháu đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản làm việc và tại phiên tòa anh Bàn Sinh L trình bày:
Anh xác định lời khai của chị B về thời gian kết hôn, con chung là đúng. Anh không đồng ý về nguyên nhân mâu thuẫn như chị B trình bày. Theo anh giữa vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Năm 2011, chị B đi lao động tại Đài Loan, năm 2014 thì về nước, sau đó tiếp tục đi Đài Loan, chị B vẫn gọi điện về cho gia đình, nhưng dừng không gửi tiền về cho anh nuôi con và cũng không về Việt Nam từ 2014 đến nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị B.
Về tài sản chung: Không có, nhưng đề nghị Tòa án ghi vào bản án xác định rõ các giấy tờ liên quan đến tài sản mà không có tên chị B, thì chị B không có quyền gì.
Về nợ chung: Từ năm 2014 chị Ba K gửi tiền về cho anh nuôi con, anh phải đi vay một số người nhưng không có tài liệu gì giao nộp cho Tòa án, chỉ có danh sách trong điện thoại. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- + Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị B, cho chị B được ly hôn anh B1 Sinh Lý. Con chung: Đã trưởng thành nên không giải quyết. Tài sản chung, nợ chung: không xem xét, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác. Chị Ba phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.] Chị Dương Thị B là nguyên đơn có nơi thường trú trước khi đi nước ngoài ở Xóm H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, hiện nay ở Đài Loan. Anh Bàn Sinh L là bị đơn có nơi thường trú tại: Xóm H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ của chị Dương Thị B nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đều có chứng thực của Văn phòng K1 tại Đ. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản của chị Dương Thị B nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của chị B. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
[2.] Chị B có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 277, Điều 474, Điều 477 và Điều 478 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị B.
Về nội dung:
[3.] Hôn nhân giữa chị Dương Thị B và anh B1 Sinh Lý trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp. Lý do chị B yêu cầu ly hôn là do bất đồng về quan điểm sự nhìn nhận cuộc sống, lối sống, cách nuôi dạy con, dẫn đến mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện và được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thể hàn gắn được. Anh L cho rằng vợ chồng không mâu thuẫn, vẫn còn tình cảm với chị B, nhưng anh cũng xác định từ năm 2014 đến nay chị Ba K về Việt Nam, không gửi tiền cho anh, thỉnh thoảng có liên lạc qua điện thoại. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định: mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Dương Thị B và anh Bàn Sinh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân theo Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình không đạt, tuy anh L không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai bên đã không còn quan tâm đến nhau, tự mỗi người lo cuộc sống riêng của mình từ năm 2014 đến nay. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B, cho chị B được ly hôn với anh L là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[4.] Về con chung: Chị Dương Thị B và anh Bàn Sinh L có 01 con chung là Bàn Duy H, sinh ngày 31/7/2002. Hiện nay con chung đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5.] Về tài sản chung, nợ chung: Chị B xác định không có tài sản chung và nợ chung. Anh L cũng xác định tài sản chung không có, nhưng đề nghị Tòa án ghi nhận trong bản án “đối với các giấy tờ liên quan đến tài sản mà không có tên chị B, thì chị B không có quyền gì”; còn về nợ chung anh không có tài liệu nào để giao nộp cho Tòa án. Thấy rằng, chị B không có mặt tại Việt Nam, các lời khai về tài sản chung và nợ chung chỉ có từ phía anh L. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự, Hội đồng xét xử không giải quyết nợ chung và tài sản chung trong vụ án này, giành quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác cho các đương sự khi có căn cứ và có đơn yêu cầu.
[6.] Án phí: Chị Ba phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm
[7.] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[8.] Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28, 37, khoản 2 Điều 38, Điều 147, 207, 227, khoản 1 Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, 56, Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị B đối với anh Bàn Sinh L.
- Về hôn nhân: Cho chị Dương Thị B được ly hôn anh Bàn Sinh L.
- Về con chung: Đã trưởng thành, nên không giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết trong vụ án này, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
- Án phí: Chị Dương Thị Ba P chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000273 ngày 28/3/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Dương Thị B quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết hợp lệ. Anh Bàn Sinh L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thủy |
5
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 39 B L
