Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ - ST

Ngày 21 - 11 - 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Tảo.

Bà Trương Thị Dung.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bùi Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 21/11/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 122/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thu T - Sinh năm 1997.

Địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Đ - Sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn Q, xã P, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên toà: Chị T, anh Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn đề nghị, nguyên đơn chị Hoàng Thị Thu T trình bày:

    Chị kết hôn với anh Nguyễn Đức Đ vào ngày 18/07/2022, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã B, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn, chị và anh Đ chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân dẫn đến hôn nhân căng thẳng, không có hạnh phúc. Chị và anh

Đ sống ly thân từ tháng 6/2025 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức Đ. Về con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Đức T1, sinh ngày 09/6/2024 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 09/6/2024. Hai cháu hiện còn nhỏ và đều đang ở với chị. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  1. Tại bản tự khai và quá trình làm việc với Toà án, bị đơn anh Nguyễn Đức Đ trình bày:

    Anh chung sống với chị Hoàng Thị Thu T có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã B, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 18/07/2022. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống không có hạnh phúc. Anh và chị T đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 6/2025 đến nay. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, anh đồng ý. Đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho anh và chị T. Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Đức T1, sinh ngày 09/6/2024 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 09/6/2024. Chị T muốn trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con thì anh cũng đồng ý. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã về địa phương thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ được biết: Chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ chung sống có đăng ký kết hôn tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã B, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 18/07/2022. Mâu thuẫn giữa chị T và anh Đ là do bất đồng trong việc nuôi dạy và chăm sóc con cái. Chị T và anh Đ đã ly thân, không sống cùng nhau từ tháng 5/2025 đến nay. Về con chung: Chị T và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Đức T1, sinh ngày 09/6/2024 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 09/6/2024, hiện các cháu đang sống cùng chị T. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Đ cụ thể như nào địa phương không nắm được. Về vụ án ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ, địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chị Hoàng Thị Thu T có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và vắng mặt tại phiên hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà:

Chủ toạ phiên toà công bố lý do các đương sự vắng mặt, tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn tham gia tố tụng đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ. Về con chung: Đề nghị căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao 02 con chung là Nguyễn Đức T1, sinh ngày 09/6/2024 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 09/6/2024 cho chị Hoàng Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Thu T về việc không yêu cầu anh Nguyễn Đức Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thu T, anh Nguyễn Đức Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đề cập xem xét. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Hoàng Thị Thu T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị Thu T, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Anh Nguyễn Đức Đ có nơi cư trú ở thôn Q, xã P, tỉnh Ninh Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án.

    Quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị Thu T, anh Nguyễn Đức Đ có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã B, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 18/07/2022, trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ đã sống ly thân từ tháng 6/2025 đến nay. Chị Hoàng Thị Thu T đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, anh Nguyễn Đức Đ cũng đồng ý ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị Thu T, xử cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về con chung: Chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ có 02 con chung là Nguyễn Đức T1, sinh ngày 09/6/2024 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 09/6/2024. Hiện nay các con chung của anh chị đều dưới 36 tháng tuổi và đang sống cùng chị T. Chị T và anh Đ đều thống nhất để chị T trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Xét nguyện vọng của anh chị phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả hai con chung cho cho chị Hoàng Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Thu T về việc không yêu cầu anh Nguyễn Đức Đ cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

  4. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Hoàng Thị Thu T, anh Nguyễn Đức Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  5. Về án phí: Chị Hoàng Thị Thu T phải chịu theo quy định của pháp luật.

  6. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án; Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thu T và anh Nguyễn Đức Đ.

  2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là Nguyễn Đức T1, sinh ngày 09/6/2024 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 09/6/2024. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Thu T về việc không yêu cầu anh Nguyễn Đức Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thu T, anh Nguyễn Đức Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng. Đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001248 ngày 06/10/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình, chị Hoàng Thị Thu T đã nộp đủ án phí.

  5. Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Thu T, anh Nguyễn Đức Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thanh Huyền

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND khu vực 8;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Bình Tuyền;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ - ST ngày 21/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger