Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 39/2025/HNGĐ -ST

Ngày: 10 - 3 - 2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  1. Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
  2. Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Tất Thể
    • Ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 256/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/12/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXX - HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim T, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Phan Tố H, sinh 1974; địa chỉ cuối cùng trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố F, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (Hiện cư trú tại: số H, McIntyre Crt, thành phố G, tỉnh Ontaria, Canada) – vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị Kim T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Tố H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 01/12/2005 tại UBND thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2019, anh Phan Tố H sang Canada lao động. Do khoảng cách địa lý xa xôi nên vợ chồng ít khi nói chuyện, quan tâm lẫn nhau. Một thời gian sau thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều bất đồng về cách nghĩ, lối sống mà không thể nào hòa hợp được và vợ chồng rất ít khi liên lạc với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Trần Thị Kim T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục. Vì vậy, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Tố H.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phan Thúy N, sinh ngày 15/6/2006 và Phan Phúc N1, sinh ngày 23/12/2013. Chị Trần Thị Kim T có nguyện vọng được trực chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phan Phúc N1 đến khi đủ tuổi trưởng thành và chị không yêu cầu anh Phan Tố H đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Phan Thúy N hiện nay đã trên 18 tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phan Tố H, sau khi thư lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và được người đại diện ủy quyền của anh nhận thay.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Phan Tố H đã gửi các tài liệu, chứng cứ gồm bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền và bản sao hộ chiếu của anh H có chứng thực của Đ tại Canada cho Tòa án. Theo đó, tại bản tự khai đề ngày 31/12/2024, anh Phan Tố H trình bày thống nhất với chị Trần Thị Kim T về thời gian đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Về tình cảm: anh Phan Tố H yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn với chị Trần Thị Kim T; về con chung: Thống nhất giao con chung là Phan Phúc N1 cho chị Trần Thị Kim T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Phan Thúy N đã trên 18 tuổi nên anh Phan Tố H không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự; phân tích nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83 Điều 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV; điểm a khoản 1 điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ - HĐTP ngày 16/5/2024, cụ thể:

- Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H.

- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giao cháu Phan Phúc N1, sinh ngày 23/12/2013 cho chị Trần Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phan Tố H không phải cấp dưỡng nuôi con, được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về thủ tục tố tụng:

Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, chị Trần Thị Kim T có mặt tại Việt Nam, còn anh Phan Tố H đang lao động tại Canada và các tài liệu, chứng cứ do anh Phan Tố H gửi về yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Trần Thị Kim T đều có xác nhận của Đ tại Canada nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H đều vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

2. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 01/12/2005 tại UBND thị trấn X, huyện N. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh H sang Canada lao động và từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống xa nhau, ít khi nói chuyện và quan tâm lẫn nhau nên tình cảm ngày càng phai nhạt. Hiện nay, chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H đều xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên thống nhất thuận tình ly hôn.

Từ yêu cầu của các đương sự và căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn ... thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được và sự thỏa thuận của hai người là tự nguyện, không vi phạm điều cấm. Do đó, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H để hai người ổn định cuộc sống mới như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H có 02 con chung là Phan Thúy N, sinh ngày 15/6/2006 và Phan Phúc N1, sinh ngày 23/12/2013.

Xét thấy, hiện nay con chung là Phan Thúy N đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đủ khả năng tự lao động kiếm sống nên chị T và anh H không yêu cầu giải quyết là có căn cứ. Đối với con chung Phan Phúc N1 có nguyện vọng được ở với chị T và anh H, chị T cũng thống nhất giao cháu N1 cho chị Trần Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó, cần chấp nhận sự thỏa thuận giao con chung là Phan Phúc N1 cho chị Trần Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Phan Tố H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H.
  2. Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận chị Trần Thị Kim T và anh Phan Tố H về việc giao con chung Phan Phúc N1, sinh ngày 23/12/2013 cho chị Trần Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Phan Tố H không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
  3. Về án phí: Buộc chị Trần Thị Kim T phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai số 0000231, ngày 24/12/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh, trả lại cho chị Trần Thị Kim T số tiền 225.000 đồng. Anh Phan Tố H phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND thị trấn Xuân An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ -ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐST Trần Thị Kim Th-Phan Tố H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger