Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số : 39/2025/HNGĐ - ST.

Ngày: 20/6/2025.

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN – TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Lương;

Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Nguyễn Quang Khải;

2. Bà Nguyễn Thị Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên .

Ngày 20/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2025/TLST – HNGĐ ngày 11/3/2025 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXX - ST ngày 21/5/2025; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tòng Thị T, sinh năm 1984 "vắng mặt".

Địa chỉ: Bản H, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

2. Bị đơn: Anh Lê Ngọc A, sinh năm 1990 “vắng mặt”.

NĐKHKTT: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Hiện đang chấp hành án tại: Đ, Phân trại số C, Trại giam Y. Địa chỉ: Xã H, huyện P, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 25/02/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, chị Tòng Thị T (nguyên đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và anh A lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên từ ngày 22/8/2017. Trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được gần một năm thì xảy ra mâu thuẫn là do anh A nghiện chất ma túy. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không có kết quả và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2020 cho đến nay. Sau khi sống ly thân chúng tôi không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến năm 2024 thì chồng tôi vi phạm pháp luật về tội “Tàng trữ trái phép các chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 18 tháng tù. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Y, Sơn La. Do trước đây tôi và anh A cũng đã sống ly thân lâu năm, tình cảm vợ chồng không còn, nên tôi làm đơn này xin được đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh A.

2. Về con chung: Chị T khai vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Khánh M, sinh ngày 07/12/2017.

Chị T có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu M có nguyện vọng là muốn được ở cùng với mẹ.

3.Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không có.

Tại ý kiến ngày 25/3/2025 anh Trần Ngọc A1 trình bày (bị đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và chị Tòng Thị T đã đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vào năm 2017. Chúng tôi kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống với nhau vẫn hạnh phúc, đến khi tôi nghiện ma tuý thì có xẩy ra mâu thuẫn với vợ, nhiều lần cãi vã đến thời điểm hiện tại tôi đã hết tình cảm với vợ là Tòng Thị T. Yêu cầu toà án giải quyết ly hôn cho tôi và chị Tòng Thị T.

2. Về con chung: Tôi và chị Tòng Thị T có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Khánh M, sinh ngày 07/12/2017. Do tôi đang đi chấp hành án tại trại giam nên mong muốn cháu Lê Ngọc Khánh M được sinh sống với mẹ.

3. Về tài sản và nợ: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không có.

- Án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000344 ngày 11/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật:

Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn chị Cà Thị M1, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[2].Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị T xin ly hôn với anh A1, anh A1 có hộ khẩu tạm trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39/BLTTDS.

[3]. Về điều luật áp dụng: Chị T và anh A1 kết hôn năm 2017, đến năm 2025 thì chị T khởi kiện xin ly hôn, nên Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh A1 lấy nhau có đăng ký kết hôn. Do vậy hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Quá trình chung sống do anh A1 nghiện chất ma túy, sau đó hai người bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, không còn quan tâm đến nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả và hai người đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Sau đó anh A1 vi phạm pháp luật và đang chấp hành án, chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đã làm đơn xin ly hôn, anh A1 cũng đồng ý ly hôn. Việc thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ phù hợp Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Khánh M, sinh ngày 07/12/2017.

Chị T có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh A1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Lê Ngọc Khánh M có nguyện vọng là muốn được ở cùng với mẹ.

Tại bản tự khai của anh Lê Ngọc A cũng có nguyện vọng giao con cho chị Tòng Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc Khánh M.

Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung Lê Ngọc Khánh M chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi thành niên và đủ khả năng lao động hoặc đến khi có thay đổi khác là hoàn toàn phù hợp. Do vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu và nguyện vọng của các đương sự.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6].Về tài sản:

[6.1]. Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.

[6.2]. Tài sản chung, diện tích ruộng, nương: Không có.

[7]. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000344 ngày 11/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên.

8. Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa: Sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228/BLTTDS và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 235, Điều 264 và Điều 267 và Điều 271/BLTTDS;

- Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

  1. Tuyên xử: Cho chị Tòng Thị T được ly hôn với anh Lê Ngọc A.
  2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị T và giao con chung là cháu Lê Ngọc Khánh M, sinh ngày 07/12/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác.

    Chấp nhận yêu cầu của chị T về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

3- Về Tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét.

4- Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000344 ngày 11/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, chị T đã nộp đủ án phí DSST.

5- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Khoản 1 Điều 273/BLTTDS;

Nguyên đơn và Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKS huyện Điện Biên;
  • - Chi cục THSDS H.DB;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Thanh Xương;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lường Văn Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ - ST. ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN – TỈNH ĐIỆN BIÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN – TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Tòng Thị T được ly hôn anh Lê Ngọc A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger