|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-6-2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Sửu
- Ông Lê Thành Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 70/2025/QÐST-HNGĐ ngày 02/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Văn H, sinh ngày 17/5/1970; nơi thường trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Số căn cước công dân: [...]. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị H1, sinh ngày 03/3/1969; nơi thường trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Số căn cước công dân: [...]. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn ông Vũ Văn H trình bày: Ông và bà Trần Thị H1 có tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 23/7/1993 tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Sau khi tổ chức cưới, bà H1 về làm dâu gia đình ông ngay, vợ chồng ông ở chung với bố mẹ ông tại thôn Đ, xã S. Vợ chồng ông chung sống bình thường đến năm 2003 thì ông bị bắt, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử 18 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và phải đi chấp hành án ở Trại giam X, tỉnh Đồng Nai. Trong thời gian ông chấp hành án thì bà H1 thỉnh thoảng có vào thăm ông, khi thì 1 năm, khi thì 2-3 năm vào thăm ông một lần. Năm 1999 vợ chồng ông vào Tây Ninh sinh sống. Tháng 7/2019 ông chấp hành án xong về địa phương, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do thời gian ông phải chấp hành án vợ chồng xa nhau quá lâu dẫn đến rạn nứt tình cảm, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Đến năm 2020 bà H1 đưa con vào miền N làm ăn, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, không quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Sau khi vào N thì bà H1 có về một số lần, có lần bà H1 bảo ông cùng vào sống với chị và con, nhưng ông không đồng ý vì ông còn bố mẹ già ở quê. Cuối năm 2024 ông bị nhồi máu cơ tim, phải cấp cứu và điều trị ở viện nhiều ngày, gia đình ông có liên lạc để động viên bà H1 về chăm sóc ông, nhưng bà H1 từ chối và nói là không liên quan gì đến ông nữa. Gần đây bà H1 đã chặn hết liên lạc của ông nên ông không liên lạc được với bà H1 và con, ông cũng không biết hiện mẹ con bà H1 ở tỉnh nào, địa chỉ cụ thể ra sao.
Nay ông thấy thời gian ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn bà H1.
Về con chung: Ông và bà H1 có 01 con chung là Vũ Thị Thu T, sinh ngày 16/8/2002, hiện con đã trưởng thành, tự lập nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác ông H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông không yêu cầu trích chia công sức đóng góp trong thời gian chung sống cùng bà H1.
Đối với bị đơn là bà Trần Thị H1: Bà H1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng bà vắng mặt tại các buổi làm việc theo giấytriệu tập, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án không có lý do.
Toà án tiến hành làm việc với Công an xã S, Trưởng thôn Đ, xã S và bà Lại Thị H2 là mẹ đẻ ông H1, kết quả xác định: Ông H1 và bà H1 kết hôn năm 1993 trên có sở tự nguyện sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với gia đình ông H1 ngay, sau đó ra ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bà H1 đã đưa con vào miền N làm ăn sinh sống từ năm 2020 đến nay, cuối năm 2024 ông H1 bị nhồi máu cơ tim bà H1 cũng không về thăm. Hiện bà H1 vẫn đăng ký nơi thường trú tại thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang nhưng không rõ bà H1 đi đâu và khi nào trở về, thi thoảng bà H1 có về địa phương khi có việc hoặc khi ăn cỗ rồi lại đi luôn. Gia đình bố mẹ đẻ ở xã Đ, huyện T nhưng bố mẹ đẻ bà H1 đều đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Văn H được ly hôn bà Trần Thị H1.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Kiến nghị khắc phục: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Vũ Văn H nộp đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn là bà Trần Thị H1 có nơi thường trú tại xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang, nên xác định quan hệ tranh chấp là “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H về việc ly hôn với bà Trần Thị H1 thì thấy:
Ông Vũ Văn Hải đăng K kết hôn với bà Trần Thị H1 tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang vào ngày 23/7/1993 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo luật định. Vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Bị đơn là bà Trần Thị H1 không đến Tòa án làm việc, hoà giải và không gửi ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của ông H1 chứng tỏ bà H1 không thiết tha hàn gắn quan hệ hôn nhân với ông H1, căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Lời khai của ông H1 hoàn toàn phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, về việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không sống chung cùng nhau từ năm 2020 đến nay, khi ông H1 bị bệnh hiểm nghèo bà H1 cũng không quan tâm chăm sóc. Do đó có căn cứ để xác định vợ chồng ông H1, bà H1 không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình và chung sống cùng nhau theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa ông H1, bà H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần được chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Văn H xin được ly hôn với bà Trần Thị H1 là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Ông H1 xin ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Vũ Văn H được ly hôn bà Trần Thị H1.
- Về án phí: Ông Vũ Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông H đã nộp theo biên lai số 0003622 ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận ông H đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mai Hương |
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông H yêu cầu ly hôn bà H1
