TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn Hóa
- Bà Bùi Thị Bích Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Minh Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 264/2025/TLST – HNGĐ ngày 14/4/2025 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-DS ngày 09/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hoàng Việt D, sinh năm 1984;
HKTT và chỗ ở: Số C, ngách F, ngõ A H, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Bà Trương Thị Lệ T, sinh năm 1986
HKTT: Số C, ngách F, ngõ A H, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: căn hộ 12A09, tòa P, T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hoàng Việt D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Trương Thị Lệ T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận T, Thành phố Hà Nội ngày 24/03/2010; Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại địa chỉ số C, ngách F, ngõ A H, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng ông thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, hay cãi vã. Sự mâu thuẫn của hai vợ chồng khiến cho gia đình hai bên phiền muộn, các con ảnh hưởng đến việc học tập và cuộc sống sinh hoạt. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, bế tắc. Đến năm 2016 ông và bà T ly thân, mỗi người sống một nơi không ai hỏi thăm đến cuộc sống của ai. Dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đơn sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy ông đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa ông và bà T theo đúng quy định của pháp luật.
- Về con chung: Vợ chồng ông có hai con chung là cháu Hoàng Minh P, sinh ngày 03/6/2010 và cháu Hoàng Hải Đ, sinh ngày 08/12/2014.
Từ khi hai vợ chồng ông ly thân đến nay các con sống cùng bà Trương Thị Lệ T, ông được biết hai con ông có lời khai và nguyện vọng được ở cùng với mẹ, vì vậy để tôn trọng ý kiến của hai con cũng như để cuộc sống của hai cháu không bị xáo trộn, ảnh hưởng đến tâm sinh lý khi bố mẹ ly hôn, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho hai cháu được ở cùng với mẹ là bà Trương Thị Lệ T. Hai con chung là cháu P hiện đang học trường THCS V, cháu Đ hiện đang học trường tiểu học V với mức học phí khoảng 4-5 triệu đồng/ tháng/ cháu. Mức thu nhập của ông là 20.000.000 đồng/ tháng do đó ông đề nghị mức cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi con chung 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Mức cấp dưỡng trên vừa để chăm lo cho hai cháu vừa để đảm bảo cuộc sống riêng của ông sau khi ly hôn, còn lại vợ ông cũng có trách nhiệm chăm nuôi hai con.
Ông được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung mà bà T không được phép cản trở.
- Về tài sản chung: Ông sẽ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản nợ chung: Ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về án phí: Ông tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ giấy báo, thông báo, quyết định của tòa án cho bà Trương Thị Lệ T tuy nhiên bà T không đến tòa án làm việc nên không có lời khai tại Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện VKS ND quận H phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án. Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của các Điều 39, 48, 198, 203, 205, 208, 209, 210, 220 và các điều tại chương 14 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của các Điều 70,71 Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Việt D, xử cho anh Hoàng Việt D được ly hôn với chị Trương Thị Lệ T. Về con chung, giao cháu Hoàng Minh P, cháu Hoàng Hải Đ cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Dũng cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/01 cháu/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung đề nghị không xem xét, giải quyết.
Buộc anh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
- Ông Hoàng Việt D có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời khai tại phiên tòa sơ thẩm.
- Bà Trương Thị Lệ T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nên không có lời khai tại phiên tòa sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn là bà Trương Thị Lệ T. Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã xác minh bà T có địa chỉ cư trú tại căn hộ A, tòa P, T, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội do đó căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.
Nguyên đơn được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do và không có đơn xin xét xử vắng mặt do đó HĐXX căn cứ khoản 2, Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu ly hôn của ông Hoàng Việt D đối với bà Trương Thị Lệ T:
Ông D và bà T kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận T, Thành phố Hà Nội ngày 24/03/2010, không ai trình bày bị đe dọa, ép buộc nên HĐXX xác định đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Ông Hoàng Việt D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn là bà Trương Thị Lệ T vì lý do vợ chồng ông thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, hay cãi vã, các con ảnh hưởng đến việc học tập và cuộc sống sinh hoạt, cuộc sống hôn nhân ngột ngạt, bế tắc.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn là bà T đến tòa án làm việc tuy nhiên ban đầu bà T không nhận văn bản tố tụng của Tòa án, sau đó nhận văn bản tố tụng nhưng không đến tòa án làm việc. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ và làm bản tự khai, tuy nhiên bà T không có bản tự khai, không có ý kiến quan điểm, không giao nộp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án, do đó HĐXX xem xét yêu cầu khởi kiện của ông D căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do ông D cung cấp và tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập.
Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân tại nơi cư trú hiện nay của ông D, bà T và được cung cấp như sau:
- - Tổ dân phố số 27, Tòa P, T, phường M, quận H cung cấp: Tổ dân phố không ghi nhận trường hợp phải nhờ tổ dân phố hòa giải. Anh Dũng hiện không sống tại địa chỉ Căn A, Tòa P, T, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội. Các nội dung khác Tổ dân phố không nắm được đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Tổ dân phố số A phường K, quận T, TP Hà Nội: Tổ dân phố chưa ghi nhận việc ông D, bà T nhờ tổ dân phố hòa giải tại địa phương. Các nội dung khác tổ dân phố đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ lời khai của ông D, các tài liệu chứng cứ thu thập xác định vợ chồng ông D, bà T đã phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2016, hiện không chung sống cùng nhau. Tòa án đã thông báo về việc hòa giải tuy nhiên bà T vắng mặt tại cả hai phiên hòa giải, ông D đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể chung sống. Vì vậy HĐXX xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông D, bà T là trầm trọng, cả hai bên không có tiếng nói chung, hôn nhân của ông D và bà T là không thể hàn gắn do đó yêu cầu ly hôn của ông D là có căn cứ và phù hợp với quy định tại 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.
- Về con chung: Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định ông D và bà T có 02 con chung là cháu Hoàng Minh P, sinh ngày 03/6/2010 và cháu Hoàng Hải Đ, sinh ngày 08/12/2014.
Do các cháu đã trên 07 tuổi nên Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của cháu P và cháu Đ như sau:
- - Cháu P trình bày: Hiện cháu đang sống cùng em trai là Hoàng Hải Đ và mẹ tại phòng 12A07, Tòa P, T, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội. Nếu bố mẹ ly hôn cháu xin được ở cùng mẹ vì cháu là con gái nên cần được mẹ chăm sóc;
- - Cháu Đ trình bày: Cháu hiện ở cùng với chị gái cháu là Hoàng Minh P và mẹ cháu tại phòng 12A07, Tòa P, T, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội. Nếu bố mẹ ly hôn cháu xin ở với mẹ cháu vì cháu đã quen ở với mẹ và chị.
Ông D cũng trình bày từ khi vợ chồng ông ly thân đến nay các con ông đang ở cùng vợ ông, nay các con muốn ở cùng với mẹ, ông cũng đồng ý để bà T nuôi cả hai con chung và có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con.
Xét thấy, việc tòa án giải quyết cho ly hôn có thể làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ, hiện hai con ông D, bà T đang sinh sống ổn định cùng mẹ là bà Trương Thị Lệ T, các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Ông D cũng đồng ý để cho các con ở với mẹ để ổn định cuộc sống, vì vậy để cuộc sống của các con không bị xáo trộn khi tòa án giải quyết ly hôn và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con ông D, bà T HĐXX căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình xem xét giao cháu P và cháu Đ cho bà Trương Thị Lệ T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông D có quyền, nghĩ vụ thăm nom con chung mà không được ai cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ khoản 2, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, ông D không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là cháu P và cháu Đ.
Ông D đề nghị mức cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/ tháng/cháu và cung cấp cho Tòa án giấy xác nhận bảng lương của Công ty cổ phần H thể hiện 03 tháng lương gần nhất ông thực lĩnh là 20.000.000 đồng/tháng.
Trên cơ sở mức thu nhập của ông D, mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu vùng trên địa bàn Hà Nội thì để đảm bảo mức sinh hoạt cho 02 con và đảm bảo cuộc sống cho ông D, HĐXX buộc ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con là cháu Hoàng Minh P và Hoàng Hải Đ với mức cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng/cháu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông D trình bày ông tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ và làm bản tự khai cho bà T có nội dung: trường hợp nếu yêu cầu giải quyết về tài sản chung và công nợ chung giữa bà với ông D thì có ý kiến bằng văn bản và cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Hết thời hạn theo Quyết định bà T không có ý kiến bằng văn bản hoặc đơn đề nghị gửi cho Tòa án nên HĐXX không xem xét. Trường hợp có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung và có đủ tài liệu chứng cứ các đương sự có quyền khởi kiện trong vụ án hôn nhân gia đình khác.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: nguyên đơn là ông Hoàng Việt D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn và cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 51; khoản 1, Điều 53; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Việt D đối với bà Trương Thị Lệ T:
- Về quan hệ hôn nhân: ông Hoàng Việt D được ly hôn với bà Trương Thị Lệ T;
- Về con chung: Giao 02 con chung của ông Hoàng Việt D và bà Trương Thị Lệ T là cháu Hoàng Minh P, sinh ngày 03/6/2010 và cháu Hoàng Hải Đ, sinh ngày 08/12/2014 cho bà Trương Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Buộc ông Hoàng Việt D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng Minh P và cháu Hoàng Hải Đ với mức cấp dưỡng 5.000.000 đồng/01 cháu/tháng. Việc cấp dưỡng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Ông Hoàng Việt D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xét xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc ông Hoàng Việt D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông D đã nộp theo biên lai số 0034858 ngày 14/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai. Buộc ông D phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Ông Hoàng Việt D và bà Trương Thị Lệ T vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
- - TAND TP Hà Nội;
- - VKS ND TP Hà Nội;
- - Đương sự;
- - Viện kiểm sát nhân dân Quận Hoàng Mai;
- - Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai;
- - UBND phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội (Số 68 ngày 24/3/2010)
- - Lưu hồ sơ vụ việc..
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hà |
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn
