|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 4 - 2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thừa .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Văn Chung
- Ông Nguyễn Văn Thơi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Truyển Hân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1975; cư trú tại: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- - Bị đơn: Chị Lê Thị Ngọc N, sinh năm 1980; cư trú tại: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Huỳnh Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Ngọc N tự nguyện kết hôn năm 2000, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng không tìm được sự đồng cảm trong cuộc sống hôn nhân mặc dù đã cố gắng hàn gắn và động viên nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Vì vậy, anh yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Ngọc N.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Huỳnh Thị Yến N1 (giới tính: nữ), sinh ngày 09/5/2001 và Huỳnh Chí K (giới tính: nam), sinh ngày 22/8/2009. Anh yêu cầu được nuôi con chung là Huỳnh Chí K, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Con chung Huỳnh Thị Yến N1 đã trưởng thành, có cuộc sống riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lê Thị Ngọc N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Văn T có tổ chức đám cưới và tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng nên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Hiện chị và anh T đã không còn chung sống với nhau được nữa nên chị đồng ý ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị đồng ý giao con chung là Huỳnh Chí K cho anh T nuôi dưỡng. Còn con chung Huỳnh Thị Yến N1 đã trưởng thành có cuộc sống riêng, chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên toà, anh Huỳnh Văn T và chị Lê Thị Ngọc N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Anh Huỳnh Văn T và chị Lê Thị Ngọc N tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con chung. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[1.2] Nguyên đơn anh Huỳnh Văn T và bị đơn chị Lê Thị Ngọc N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Anh Huỳnh Văn T và chị Lê Thị Ngọc N tự nguyện kết hôn, có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000, không có đăng ký kết hôn theo quy định nên không được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên yêu cầu giải quyết ly hôn.
Anh T và chị N xác định do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng nên giữa anh chị thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Hai bên đã tìm cách hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành, hiện không thể sống chung với nhau được nữa nên chị anh T và chị N thống nhất ly hôn. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, có cơ sở xác định: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị N thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do anh T và chị N kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Huỳnh Văn T và chị Lê Thị Ngọc N.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, anh T và chị N có 02 con là Huỳnh Thị Yến N1 (giới tính: nữ), sinh ngày 09/5/2001 và Huỳnh Chí K (giới tính: nam), sinh ngày 22/8/2009. Đối với con chung là Huỳnh Thị Yến N1 đã trưởng thành, có cuộc sống riêng, anh T và chị N không yêu cầu Toà án giải quyết. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được nuôi trẻ Huỳnh Chí K, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Riêng trẻ Huỳnh Chí K đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng được sống cùng với anh T; chị N cũng đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng. Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; để đảm bảo lợi ích, sự ổn định trong cuộc sống và sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý của trẻ; căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao trẻ Huỳnh Chí K cho anh T nuôi dưỡng. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Khi có lý do chính đáng, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[2.4] Về tài sản chung: Anh T và chị N xác định không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[2.5] Về nợ chung: Anh T và chị N xác định không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Huỳnh Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Văn T đối với chị Lê Thị Ngọc N.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Huỳnh Văn T và chị Lê Thị Ngọc N.
- Về con chung: Giao con chung là trẻ Huỳnh Chí K (giới tính: nam), sinh ngày 22/8/2009 cho anh Huỳnh Văn T được quyền nuôi dưỡng. Anh Huỳnh Văn T không yêu cầu chị Lê Thị Ngọc N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Chị Lê Thị Ngọc N có quyền, nghĩa vụ, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Khi có lý do chính đáng, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về tài sản chung: Anh Huỳnh Văn T và chị Lê Thị Ngọc N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Anh Huỳnh Văn T và chị Lê Thị Ngọc N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Anh Huỳnh Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010517 lập ngày 28/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thừa |
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
