Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST

Ngày 13/6/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài

  • Ông Lê Phi Long

  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 4, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Chương Văn T, sinh năm 1985; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: số A, phố V, quận Q, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc). Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  2. Bị đơn: chị Lỷ Ửng M, sinh năm 1985; nơi thường trú: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Chương Văn B, sinh năm 1961 và bà Lý Thị P, sinh năm 1963; cùng nơi thường trú: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 25/02/2025, đều được Văn phòng Kinh tế - Văn hoá Việt Nam tại Đ chứng thực ngày 25/02/2025, nguyên đơn anh Chương Văn T trình bày:

Anh Chương Văn T và chị Lý Ửng M1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 014/2006 ngày 05/6/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Do điều kiện kinh tế khó khăn, anh T đi Đài Loan lao động để lo kinh tế gia đình. Từ khi anh T đi Đài Loan, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh T và chị M1 bất đồng điểm sống, không có tiếng nói chung. Hơn nữa, do khoảng cách địa lý xa xôi gây khó khăn cho vợ chồng khi giải quyết công việc gia đình, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để khắc phục mâu thuẫn, đã được hai bên gia đình hòa giải, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không quan tâm đến nhau nữa, anh T yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho anh T được ly hôn với chị Lỷ Ửng M để ổn định cuộc sống.

  • - Về con chung: anh Chuơng Văn T1 và chị Lỷ Ử Múi có ba con chung là Chương Văn V, sinh ngày 15/11/2008; Chương Văn Q, sinh ngày 15/11/2008 và Chương Thị T2, sinh ngày 26/12/2009. Khi ly hôn, anh T1 có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng cả ba con chung và đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

  • Do anh T1 đang lao động tại Đài Loan chưa về để trực tiếp thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con được, anh T1 giao (ủy quyền) cho bố mẹ đẻ của anh T1 là ông Chương Văn B và bà Lý Thị P, nuôi dưỡng các con cho đến khi anh T1 về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: không có, anh Chương Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết.

  • - Về án phí sơ thẩm: anh Chương Văn T tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Do anh Chương Văn T đang ở Đài Loan chưa thể về Việt Nam giải quyết yêu cầu xin ly hôn với chị Lỷ Ứng M2 được. Anh T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đề nghị Tòa án cho anh T được vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp và phiên tòa. Anh Chương Văn T ủy quyền cho anh Nguyễn Việt H, sinh ngày 31/8/2000; nơi đăng ký thường trú: thôn T, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ liên hệ: số B, ngõ D phố D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội là người thay mặt anh T giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án có thẩm quyền tại Việt Nam để giải quyết yêu cầu xin ly hôn của anh T và chị M2; thời hạn ủy quyền cho đến khi giải quyết xong công việc, thể hiện tại Giấy uỷ quyền ngày 25/02/2025 được chứng thực của Văn phòng Kinh tế - Văn hoá Việt Nam tại Đ.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/4/2025, bị đơn chị Lỷ Ửng M trình bày:

Chị Lỷ Ửng M và anh Chương Văn T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh năm 2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh T, cuộc sống chung hạnh phúc được khoảng ba năm đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do anh T thường xuyên uống rượu, đánh bạc, không mang tiền về lo cho gia đình, về nhà còn chửi bới, đập phá đồ đạc trong nhà và đánh chị M. Tình trạng mẫu thuẫn kéo dài nhiều năm, gia đình anh T cũng có khuyên can nhưng anh T không thay đổi. Đầu năm 2010, chị M bỏ về nhà ngoại ở khoảng 02 tháng thì bố mẹ anh T gọi về trông nom con nhưng tình cảm vợ chồng không khắc phục được, chị M thấy anh T đã có quan hệ với người phụ nữ khác. Đến năm 2015, chị M lại bỏ về nhà ngoại ở nhưng thỉnh thoảng vẫn về trông nom con (khi anh T không có nhà thì chị M về). Đến năm 2020, anh T đi lao động hợp tác tại Đài Loan thì chị M lại về nhà bố mẹ anh T ở để trông nom các con. Thời gian khoảng hai năm đầu, anh T thỉnh thoảng gọi điện về hỏi thăm con cái, không nói gì về việc khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, sau đó thì anh T chặn điện thoại của chị M. Theo chị M được biết, anh T có gửi tiền về cho bố mẹ anh T để nuôi con nhưng không gửi tiền cho chị M, khi chị M hỏi anh T gửi tiền về nộp tiền học cho con thì anh T chặn luôn chị M. Đầu năm 2025, anh T về thăm nhà, chỉ nhắn tin bảo chị M làm thủ tục ly hôn nhưng chị M không đồng ý thì anh T lại chặn liên lạc. Đến nay, chị M nhận thấy không còn tình cảm với anh T nên đồng ý ly hôn với anh T.

  • - Về con chung: chị Lỷ Ửng M và Chương Văn T có 03 con chung là: Chương Văn V, sinh ngày 15/11/2008; Chương Văn Q, sinh ngày 15/11/2008 và Chương Thị T2, sinh ngày 26/12/2009. Hiện nay, các con đang ở cùng bố mẹ anh T là ông Chương Văn B và bà Lý Thị P; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; chị M là người nộp tiền học cho các con, mua quần áo, đồ dùng học tập và thỉnh thoảng mua đồ ăn cho các con và đi đi về về thăm nom, chăm sóc các con. Khi ly hôn, chị M đề nghị Toà án giao hai con chung Chương Văn Q và Chương Thị T2 cho anh T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), còn giao con Chương Văn V cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị M yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con Chương Văn V mức 3.000.000 đồng/tháng.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: chị L Ửng M khai có tài sản chung là quyền sử dụng đất nông nghiệp tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Hiện nay, chị M đang trồng trọt trên mảnh đất này, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bố mẹ của anh T đang cất giữ. Chị M sẽ tự thoả thuận giải quyết với anh T và bố mẹ của anh T, nếu không thoả thuận được thì chị M sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 06/5/2025 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chương Văn B và bà Lý Thị P (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh), thể hiện nội dung: ông B và bà P là bố mẹ đẻ của anh Chương Văn T. Ông B - bà P được anh T uỷ quyền nuôi dưỡng các con chung của anh T và chị M trong thời gian anh T đi Đài Loan chưa thể về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con. Ông B - bà P đều đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung của anh T và chị M cho đến khi anh T trở về Việt Nam.

* Tại Biên bản ghi nguyện vọng của cháu Chương Văn Q đề ngày 06/5/2025 (có xác nhận của Trường P1, tỉnh Quảng Ninh), thể hiện nội dung: hiện nay, cháu Q đang ở nội trú và học tập tại Trường P1. Cháu Q có nguyện vọng được ở cùng với bố, sau khi bố mẹ ly hôn.

* Tại Biên bản ghi nguyện vọng của cháu Chương Thị T2 đề ngày 06/5/2025 (có xác nhận của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên huyện T, tỉnh Quảng Ninh), thể hiện nội dung: hiện nay, cháu T2 đang ở nội trú và học tập tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Cháu T2 có nguyện vọng được ở cùng với bố, sau khi bố mẹ ly hôn.

* Tại Biên bản ghi nguyện vọng của cháu Chương Văn V đề ngày 06/5/2025 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh), thể hiện nội dung: hiện nay cháu V đang ở cùng với chị L Ửng Múi tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Cháu V có nguyện vọng được ở cùng với mẹ, sau khi bố mẹ ly hôn.

* Tại Biên bản xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ ngày 06/5/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, thể hiện nội dung: trên cơ sở đề nghị của Tòa án và được tiếp cận các tài liệu do Tòa án cung cấp gồm bản Trích lục kết hôn, hộ chiếu mang tên Chương Văn T; căn cước công dân mang tên Lỷ Ửng M và 03 giấy khai sinh mang tên Chương Văn V, Chương Văn Q, Chương Thị T2 (là các tài liệu do anh T nộp kèm theo đơn khởi kiện). Ủy ban nhân dân xã H đã kiểm tra tài liệu lưu trữ tại ủy ban là Sổ đăng ký kết hôn năm 2006; phối hợp với Công an xã H, tỉnh Quảng Ninh để xác nhận thông tin về cư trú của công dân Lỷ Ử, xác định: công dân Lý Ửng M1 và công dân Chương Văn T đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh Số 014/2006 ngày 05/6/2006, thể hiện tại bản Trích lục kết hôn (bản sao) số: 22/TLKH-BS ngày 21/01/2025 do Ủy ban nhân dân xã H thực hiện trích lục từ Sổ đăng ký kết hôn đúng là anh Chương Văn T, sinh ngày 13/01/1985 và chị Lỷ Ửng M, sinh ngày 23/11/1985; cùng nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh đang là đương sự trong vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Về nội dung công dân Lý Ửng M1 và công dân Chương Văn T đã đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh Số 014/2006 ngày 05/6/2006, thể hiện tại bản Trích lục kết hôn (bản sao) số: 22/TLKH-BS ngày 21/01/2025 do Ủy ban nhân dân xã H thực hiện trích lục từ Sổ đăng ký kết hôn sai lệch với giấy tờ tùy thân của anh T và chị M1 hiện nay là do trước đây công dân đi làm thủ tục đăng ký kết hôn khai không chính xác (hoặc có thể là do bố mẹ kê khai hộ); thủ tục đăng ký kết hôn từ năm 2006 không chính quy như hiện nay.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Về nội dung: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Chương Văn T như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Chương Văn T đối với chị Lỷ Ửng M; về con chung: căn cứ yêu cầu, quan điểm của nguyên đơn anh T, quan điểm của bị đơn chị M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông B – bà P, cùng nguyện vọng của các con chung của anh T – chị M. Đề nghị Hội đồng xét xử, giao hai con chung Chương Văn Q và Chương Thị T2 cho anh T nuôi dưỡng, tạm giao cho bố mẹ anh T nuôi dưỡng trong thời gian anh T chưa về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con; giao con chung Chương Văn V cho chị M nuôi dưỡng; anh T và chị M, không phải cấp dưỡng cho con với nhau.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Chương Văn T, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; nguyên đơn anh Chương Văn T hiện đang sinh sống tại địa chỉ: số A, phố V, quận Q, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Các đương sự trong vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập lưu tại hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Chương Văn T và chị L Ửng Múi tự nguyện kết hôn, đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh vào năm 2006, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, anh T và chị M chung sống hạnh phúc được một thời gian, từ năm 2020 anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan.

Về tình trạng hôn nhân của anh T và chị M như anh T, chị M trình bày nêu trên, là có căn cứ xác định trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, anh T và chị M đã không còn chung sống với nhau kể từ khi anh T đi lao động tại Đài Loan; anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn với chị M, chị M đồng ý ly hôn với anh T. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: anh T và chị M không còn tồn tại đời sống chung; vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần; không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh T đối với chị M.

[2.2] Về con chung: anh Chương Văn T và chị Lỷ Ử Múi có ba con chung là Chương Văn V, sinh ngày 15/11/2008; Chương Văn Q, sinh ngày 15/11/2008 và Chương Thị T2, sinh ngày 26/12/2009.

Đối với yêu cầu, quan điểm của nguyên đơn anh Chương Văn T; quan điểm của bị đơn chị Lỷ Ửng M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Chưng Văn B1 – bà Lý Thị P về phần nuôi con, cùng nguyện vọng của các con chung của anh T và chị M như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy: anh T hiện nay đang đi lao động tại Đài Loan, có đủ điều kiện về kinh tế nhưng không có điều kiện để trông nom, chăm sóc, giáo dục các con chung; chị M hiện nay đang ở nhà bố mẹ đẻ, làm nông nghiệp và đang trực tiếp nuôi con Chương Văn V, đóng tiền học, mua quần áo, đồ dùng học tập,...cho các con Chương Văn Q và Chương Thị T2. Để đảm bảo quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con của cha, mẹ khi ly hôn và để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chung về mọi mặt, căn cứ quy định tại các Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao cho anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Chương Văn Q, sinh ngày 15/11/2008 và Chương Thị T2, sinh ngày 26/12/2009 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao cho chị L Ửng Múi trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Chương Văn V, sinh ngày 15/11/2008 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh T và chị M đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Do anh T đang làm việc tại Đài Loan nên tạm giao cháu Chương Văn Q, sinh ngày 15/11/2008 và cháu Chương Thị T2, sinh ngày 26/12/2009 cho ông Chương Văn B và bà Lý Thị P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi anh Chương Văn T về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: nguyên đơn anh Chương Văn T có yêu cầu, quan điểm xin được nuôi dưỡng cả ba con chung và yêu cầu chị M cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật; bị đơn chị Lỷ Ử Múi có quan điểm xin được nuôi dưỡng con chung Chương Văn V, còn hai con chung Chương Văn Q và Chương Thị Tâm G cho anh T nuôi dưỡng. Chị M yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con Chương Văn V mức 3.000.000 đồng/tháng. Với điều kiện nuôi dưỡng con của anh T và chị M như nêu trên, xét thấy anh T có điều kiện về kinh tế hơn so với chị M, Hội đồng xét xử đã giao cho anh T nuôi dưỡng hai con chung và giao cho chị M nuôi dưỡng một con chung, theo quy định tại khoản 2 Điều 82; Điều 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thấy anh T và chị M không phải cấp dưỡng cho con với nhau cũng đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con của anh T và chị M nên không chấp nhận yêu cầu, quan điểm của anh T và chị M về yêu cầu cấp dưỡng cho con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: anh Chương Văn T và chị Lỷ Ửng M, đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Chương Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Chương Văn T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: anh Chương Văn T được ly hôn với chị Lỷ Ửng M.

[2] Về con chung:

Giao cho anh Chương Văn T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Chương Văn Q, sinh ngày 15/11/2008 và Chương Thị T2, sinh ngày 26/12/2009 cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi).

Giao cho chị L Ửng Múi trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Chương Văn V, sinh ngày 15/11/2008, cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi).

Tạm giao cháu Chương Văn Q, sinh ngày 15/11/2008 và Chương Thị T2, sinh ngày 26/12/2009 cho ông Chương Văn B và bà Lý Thị P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi anh Chương Văn T về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Chương Văn T và chị Lỷ Ử Múi có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Chương Văn T và chị Lỷ Ử Múi lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Chương Văn T và chị Lỷ Ử Múi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy anh Chương Văn T và chị Lỷ Ử Múi không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Chương Văn T và chị Lỷ Ử Múi có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: anh Chương Văn T và chị Lỷ Ử Múi không phải cấp dưỡng cho con với nhau.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: anh Chương Văn T và chị Lỷ Ử Múi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: anh Chương Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006004 ngày 04/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: anh Chương Văn T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; chị Lỷ Ửng M, ông Chương Văn B và bà Lý Thị P biết, đều có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu HSVA; VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger