|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-6-2025 Về việc ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Vũ Tiến Đ. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hùng.
- Bà Nguyễn Thị Yến.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Là – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 52/2025/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QĐST – HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 2003.
Nơi cư trú: Xóm C xã N, huyện N, tỉnh Định.
Bị đơn: Anh Vũ Tiến Đ, sinh năm 2000.
Nơi cư trú: Xóm C xã N, huyện N, tỉnh Định.
(Tại phiên tòa chị L và anh Đ vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 3 năm 2025 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Thị L trình bày: Chị và anh Vũ Tiến Đ đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 12 tháng 12 năm 2022. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, tính cách không hợp, nhiều lần anh Đ còn đánh đập chị. Từ đầu tháng 02 năm 2025 đến nay, chị và anh Vũ Tiến Đ ly thân không đoàn tụ lại, không quan tâm nhau. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Tiến Đ.
Về con chung, chị và anh Vũ Tiến Đ không có con chung. Về tài sản, chị và anh Đ không có tài sản chung, không có nợ nần chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung và chia tài sản chung khi ly hôn.
Tại phiên tòa, chị L vắng mặt đã có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án xác định được anh Vũ Tiến Đ vẫn có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Anh Đ vẫn thường xuyên sinh sống và đi về nơi cư trú. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đ nhận nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản trình bày quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án để Tòa án xem xét. Tại phiên tòa, anh Đ vắng mặt không có lý do.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tại phiên toà, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Vũ Tiến Đ.
Về con chung và tài sản chung: Chị L và anh Đ không có con chung, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản chung nên không đặt ra xem xét về con chung và tài sản chung khi ly hôn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBNVQH/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc chị Vũ Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa chị Vũ Thị L vắng mặt đã có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh Vũ Tiến Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về việc kết hôn: Chị Vũ Thị L và anh Vũ Tiến Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào tháng 12 năm 2022 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
[3] Quá trình chung sống: Chị Vũ Thị L và anh Vũ Tiến Đ do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp, vợ chồng thiếu sự quan tâm và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Từ tháng 02 năm 2025 đến nay vợ chồng ly thân không đoàn tụ lại. Anh Vũ Tiến Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, biết rõ Tòa án đang giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị L về việc xin ly hôn anh nhưng anh Đ vẫn không đến làm việc với Tòa án, không có văn bản trình bày quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, chứng tỏ anh Đ có ý thức bỏ mặc hôn nhân. Vì vậy cuộc hôn nhân giữa chị L và anh Đ nếu có duy trì thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L về việc ly hôn anh Vũ Tiến Đ là phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về con chung và tài sản chung: Chị Vũ Thị L và anh Vũ Tiến Đ không có con chung, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này chị L và anh A có yêu cầu giải quyết về việc chia tài sản chung thì Tòa án giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[6] Về án phí: Chị Vũ Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Vũ Tiến Đ.
- Về án phí: Chị Vũ Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0005318 ngày 03 tháng 4 năm 2025.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị L và anh Vũ Tiến Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thọ |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Hùng Nguyễn Thị Yến |
Bùi Xuân Thọ |
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Vũ Tiến Đ
