|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2025/HNGĐ - ST Ngày: 09 - 4- 2025. V/v ly hôn giữa chị N và anh N1 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Dương Thị Vui.
- Ông Vũ Mạnh Toàn.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2024/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2025/QĐST – HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1986.
- Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định.
- + Bị đơn: Anh Trần Văn N1, sinh năm 1986.
- Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định.
- Tại phiên tòa vắng mặt chị N, anh N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa hôm nay chị Hoàng Thị N vắng mặt nhưng chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn khởi kiện cũng như lời khai chị Hoàng Thị N trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Chị kết hôn với anh Trần Văn N1 vào tháng 01/2013 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh N1 thường xuyên chơi bời dẫn đến nợ nần. Mặc dù chị đã nhiều lần động viên khuyên bảo nhưng anh N1 vẫn không thay đổi. Đến tháng 8/2022 thì vợ chồng chị sống ly thân đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh N1 không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn N1.
Về con chung: Giữa chị và anh N1 có ba con chung là cháu Trần Hoàng Khánh C, sinh ngày 08/7/2014; cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 10/3/2017 và cháu Trần Hoàng L, sinh ngày 05/5/2018. Hiện ba con đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị xin nhận trực tiếp nuôi ba con và không yêu cầu anh N1 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay anh Trần Văn N1 vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã làm việc với anh N1 và anh N1 có quan điểm chưa muốn ly hôn vì các con còn nhỏ và anh đề nghị Tòa án cho anh thời gian suy nghĩ. Sau đó Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã triệu tập anh Trần Văn N1 đến Tòa án để làm việc nhưng anh N1 không hợp tác. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã tiến hành niêm yết đầy đủ những văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị N và chị Trần Văn N1; Về con chung: Giao cháu Trần Hoàng Khánh C, sinh ngày 08/7/2014; cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 10/3/2017 và cháu Trần Hoàng L, sinh ngày 05/5/2018 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Văn N1 không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N; Về án phí đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Hoàng Thị N và anh Trần Văn N1 hiện đang cư trú tại thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định. Nay chị Hoàng Thị N xin ly hôn anh Trần Văn N1 thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay chị Hoàng Thị N vắng mặt nhưng chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn N1 vắng mặt nhưng anh N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N1 là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Hoàng Thị N và anh Trần Văn N1 vào tháng 01 năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm không hiểu nhau, anh Ngọc M chơi dẫn đến nợ nần. Mặc dù chị N đã nhiều lần động viên khuyên giải nhưng anh N1 vẫn không thay đổi. Đến tháng 8/2022 thì vợ chồng chị N anh N1 sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh N1 không nhất trí ly hôn. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử ly hôn giữa chị N và anh N1.
Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh N1 đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị xin ly hôn anh N1 nên chấp nhận là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Phía anh N1 không nhất trí ly hôn nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tạo điều kiện hòa giải cho vợ chồng chị N anh N1 nhưng đến nay chị N anh N1 vẫn sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Thấy khả năng đoàn tụ không còn nên không được chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị Hoàng Thị N và anh Trần Văn N1 có ba con chung là cháu Trần Hoàng Khánh C, sinh ngày 08/7/2014; cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 10/3/2017 và cháu Trần Hoàng L, sinh ngày 05/5/2018. Hiện ba con đang do chị N chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị N xin nhận trực tiếp nuôi ba con và không yêu cầu anh N1 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Phía anh N1 không có quan điểm về việc giải quyết con chung.
Hội đồng xét xử thấy: Kể từ khi vợ chồng ly hôn ba con đang do chị N chăm sóc nuôi dưỡng. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án cháu C và cháu P có quan điểm muốn ở với mẹ và anh N1 không có quan điểm về việc giải quyết con chung. Vì vậy giao con chung là cháu Trần Hoàng Khánh C, sinh ngày 08/7/2014; cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 10/3/2017 và cháu Trần Hoàng L, sinh ngày 05/5/2018 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu anh N1 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
[4] Về tài sản chung vợ chồng: chị Hoàng Thị N và anh Trần Văn N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm chị Hoàng Thị N phải nộp theo quy định của pháp luật.
[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị N và anh Trần Văn N1.
- Về con chung: Xử giao cháu Trần Hoàng Khánh C, sinh ngày 08/7/2014; cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 10/3/2017 và cháu Trần Hoàng L, sinh ngày 05/5/2018 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Trần Văn N1 không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
- Án phí dân sự sơ thẩm chị Hoàng Thị N phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị chị đã nộp theo biên lai số: 0001563 ngày 18/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Dương |
Bản án số 39/2025/HNGĐ - ST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị N và anh N1
