Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08/4/2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Dung
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Thu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 545/2024/TLST-HNST ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: A đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Lê Hoàng B, sinh năm 1986

Địa chỉ: A đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Lê Hoàng B tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 07/10/2008 tại UBND phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều quan điểm bất đồng, thường xuyên mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tình cảm không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng B.

Về con chung: ông bà có 01 con chung là cháu Lê Nguyễn Thanh T1 (nữ), sinh ngày 26/3/2009. Sau khi ly hôn bà T sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Thanh T1, không yêu cầu ông Lê Hoàng B cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn ông Lê Hoàng B vắng mặt nên không rõ ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Nguyễn Thị T và ông Lê Hoàng B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2008. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà Thân yêu C được ly hôn với ông B. Bị đơn ông B có địa chỉ tại phường A (nay là phường T), quận N nên vụ kiện được xác định là “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa tiến hành các thủ tục công khai chứng cứ, hòa giải theo đúng quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, phía ông Lê Hoàng B dù đã được Toà án niêm yết các văn bản để tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông B, bà T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

[4] Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Hoàng B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ vào ngày 07/10/2008 nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng không có sự chăm sóc và chia sẻ với nhau dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung. Đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Nguyễn Thị T nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn nên có đơn yêu cầu xin ly hôn với ông Lê Hoàng B. Về phía Về phía ông B, dù đã được Toà án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt, không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà T cho thấy ông không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này, đời sống hôn nhân không còn đem lại hạnh phúc cho các bên. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Hoàng B là có cơ sở để chấp nhận.

[4.1] Về con chung: ông bà có 01 con chung là cháu Lê Nguyễn Thanh T1 (nữ), sinh ngày 26/3/2009. Xét thấy, theo lời trình bày của nguyên đơn, cháu Thanh T1 đang do bà T trực tiếp chăm sóc, mặt khác cháu Thanh T1 là bé gái có ý kiến muốn được ở với mẹ. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển tốt về tâm sinh lý, không làm thay đổi môi trường sinh hoạt của cháu Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Thanh T1 cho ông bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Hoàng B. Không ai được quyền ngăn cản ông B thực hiện quyền này.

[4.2] Về cấp dưỡng: do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: do nguyên đơn trình bày không có và bị đơn vắng mặt nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

[5] Về án phí hôn nhân: Nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lê Hoàng B.
    • - Về con chung: giao cháu Lê Nguyễn Thanh T1 (nữ), sinh ngày 26/3/2009 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Hoàng B. Không ai được quyền ngăn cản ông B thực hiện quyền này.

    - Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001984 ngày 24/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều thành án phí. Đương sự đã nộp xong.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nói trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q.Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. - Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lê Hoàng B. - Về con chung: giao cháu Lê Nguyễn Thanh T1 (nữ), sinh ngày 26/3/2009 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Hoàng B. Không ai được quyền ngăn cản ông B thực hiện quyền này. - Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger