Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04 - 6 - 2025

V/v ly hôn; tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG,

TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lan

2. Ông Hồ Đắc Minh

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương

tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 45/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “ly hôn; tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Hồng T, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 chung sống với nhau từ năm 2016, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 14/3/2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2016.

Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, gia đình chồng không tin tưởng bà T, nghi ngờ cháu K không phải con của bà T và ông T1, trong khi đó ông T1 chưa từng lên tiếng giải thích, bảo vệ bà T. Ngoài ra vợ chồng còn mâu thuẫn liên quan đến tiền bạc, ông T1 đi làm nhưng bà T không biết tiền lương hàng tháng của ông T1 được nhận là bao nhiêu, tiền của ai người đó sử dụng dẫn đến vợ chồng không có sự tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng quá mệt mỏi, áp lực, không có hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên nguyên đơn quyết định làm đơn xin ly hôn với bị đơn.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Phúc K, sinh ngày 08/01/2016 và Huỳnh Ngọc Tú A, sinh ngày 25/11/2019. Bà T yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn trình bày:

Ông T1 thống nhất với lời trình bày của bà T về quá trình chung sống với nhau từ năm 2016, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 14/3/2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2016.

Trước yêu cầu xin ly hôn của bà T thì ông T1 không đồng ý vì vẫn còn thương vợ, mong muốn vợ chồng đoàn tụ về chung sống để cùng nhau nuôi dạy con, vun vén gia đình hạnh phúc.

Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Phúc K, sinh ngày 08/01/2016 và Huỳnh Ngọc Tú A, sinh ngày 25/11/2019. Ông T1 không đồng ý giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, ông T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra bị đơn không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại các Điều 26, 35, 39 về thẩm quyền thụ lý vụ án; Điều 68 về xác định tư cách tham gia tố tụng; các Điều 93 đến 97 về việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Điều 195, 196 về trình tự thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý; Điều 203 về thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy: Tình trạng hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các chứng cứ của đương sự cung cấp, Tòa án thu thập và quy định của pháp luật tại Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và Giađề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn; tranh chấp về nuôi con là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn ông Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2016, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 14/3/2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2016. Như vậy, quan hệ hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống, vợ chồng sống chung không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, gia đình bị đơn không tin tưởng nguyên đơn, nghi ngờ cháu K không phải con của nguyên đơn và bị đơn, rồi đi dị nghị, dèm pha gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của nguyên đơn nhưng bị đơn chưa từng lên tiếng giải thích, bảo vệ nguyên đơn. Ngoài ra vợ chồng còn mâu thuẫn liên quan đến tiền bạc, bị đơn đi làm nhưng nguyên đơn không biết tiền lương hàng tháng của bị đơn được nhận là bao nhiêu, tiền của ai người đó sử dụng dẫn đến vợ chồng không có sự tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng quá mệt mỏi, áp lực, không có hạnh phúc; nguyên đơn không còn yêu thương bị đơn nữa. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn với bị đơn. Bị đơn ông T1 không đồng ý ly hôn vì vẫn còn thương vợ, mong muốn vợ chồng đoàn tụ về chung sống để cùng nhau nuôi dạy con, vun vén gia đình hạnh phúc.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập các bên đương sự để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn, bị đơn không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ, muốn đoàn tụ về chung sống với nhau. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều xác định hiện nay không còn sống chung, không gặp mặt để hàn gắn tình cảm, cả hai đều không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, bị đơn còn cản trở không cho nguyên đơn thăm con tên K. Tại phiên tòa, bị đơn có cam kết, hứa hẹn với nguyên đơn về việc sẽ thay đổi bản thân, cố gắng giải quyết những vướng mắc trong gia đình để vợ chồng đoàn tụ, chung sống với nhau nhưng nguyên đơn không đồng ý, kiên quyết xin ly hôn. Trước ý kiến kiên quyết xin ly hôn của nguyên đơn thì bị đơn chỉ đồng ý ly hôn khi nguyên đơn giao hai con chung tên Huỳnh Phúc K và Huỳnh Ngọc Tú A cho bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Từ lời khai của nguyên đơn và bị đơn, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, do vậy, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.2. Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Huỳnh Phúc K, sinh ngày 08/01/2016 và Huỳnh Ngọc Tú A, sinh ngày 25/11/2019. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc Tú A, đồng ý giao con chung tên Huỳnh Phúc K cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, theo đơn trình bày nguyên vọng của con ngày 16/4/2025, con chung tên Huỳnh Phúc K có nguyện vọng được sống với cha là bị đơn, mong muốn được bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay bị đơn cũng là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên K và bị đơn cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên K. Vì vậy cần tiếp tục giao con chung tên Huỳnh Phúc K cho bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của con chung. Đối với con chung tên Huỳnh Ngọc Tú A, hiện nay đang do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, con chưa đủ 07 tuổi và là con gái nên cần tiếp tục giao con chung tên Tú A cho bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của con chung. Yêu cầu của nguyên đơn về con chung là phù hợp với quy định tại Điều 69, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, do vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nguyên đơn, bị đơn đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

2.3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

2.4 Nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 28, 39, 147, 179, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 56, 58, 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn; tranh chấp nuôi con” của nguyên đơn bà Ngô Thị Hồng T với bị đơn ông Huỳnh Thanh T1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Hồng T được ly hôn với ông Huỳnh Thanh T1.

2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Phúc K, sinh ngày 08/01/2016 cho ông Huỳnh Thanh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung tên Huỳnh Ngọc Tú A, sinh ngày 25/11/2019 cho bà Ngô Thị Hồng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị Hồng T và ông Huỳnh Thanh T1 về việc không bên nào yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí:

Bà Ngô Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007429 ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/6/2025)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CC THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - UBND xã Thanh Tuyền
  • (Giấy CNKH số 33 ngày 14/3/2016);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn; tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger