TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST
Ngày 02 tháng 6 năm 2025
V/v xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Nguyên Hồng
Ông Nguyễn Đức Việt
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2025/DS-HNGĐ ngày 13/01/2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị Q, sinh năm 1980. Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Bản Đen, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Bị đơn: Ông Hà Văn P, sinh năm 1973. Nơi ĐKNKTT: Bản Đen, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 12 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hà Thị Q trình bày như sau:
Bà và ông Hà Văn P kết hôn với nhau từ năm 1998 do cả hai cùng tự nguyện. Ông bà đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Sơn La vào ngày 03/11/1998 và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn hai ông bà chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông P vi phạm pháp luật, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy tuyên án phạt tù chung thân. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P. Về con chung: Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P có hai con chung là cháu Hà Thị Giang T sinh ngày 24/02/1999, cháu Hà Minh Q1 sinh ngày 01/08/2001 đều đã trưởng thành. Về tài sản chung vợ chồng: Bà Hà Thị Q không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung. Về nợ chung vợ chồng: Không có.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13 tháng 5 năm 2025 ông Hà Văn P trình bày:
Ông Hà Văn P không nhớ ngày đăng ký kết hôn nhưng khoảng năm 1998-1999 ông và bà Hà Thị Q có được đăng ký kết hôn, thời gian ông bà chung sống không có mâu thuẫn gì. Ông bà sống xa nhau từ khi ông phải đi chấp hành án tại trại giam N từ năm 2021 cho đến nay. Thời gian ông P đi chấp hành án bà Q có đến thăm gặp ông một lần và từ đó không còn quan tâm ông nữa. Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Q, ông đồng ý ly hôn. Về con chung: Ông Hà Văn P và bà Hà Thị Q có hai con chung là cháu Hà Thị Giang T sinh ngày 24/02/1999, cháu Hà Minh Q1 sinh ngày 01/08/2001 đều đã trưởng thành. Về tài sản chung vợ chồng: Ông Hà Văn P không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung. Về nợ chung vợ chồng: Không có. Do đang phải chấp hành án nên ông P đề nghị được giải quyết vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng của bà Q, ông P với Ban quản lý bản Đen, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Kết quả xác minh: Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã M vào năm 1998, được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Năm 2021 ông P bị kết án tù chung thân hiện đang chấp hành án về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại trại giam N, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam. Ông bà có 02 con chung là cháu Hà Thị Giang T sinh năm 1999 và cháu Hà Minh Q1 sinh năm 2001 đều đã trưởng thành.
Do nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân cho ly hôn giữa bà Hà Thị Q và anh Hà Văn P.
Về con chung: Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P có hai con chung là cháu Hà Thị Giang T sinh ngày 24/02/1999, cháu Hà Minh Q1 sinh ngày 01/08/2001 đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung vợ chồng: Không xem xét giải quyết.
Về nợ chung vợ chồng: Không có.
Về án phí: Bà Hà Thị Q chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của bà Hà Thị Q yêu cầu xin ly hôn đối với ông Hà Văn P, nơi cư trú: Bản Đ, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp là xin ly hôn là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu xin ly hôn:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, ông bà đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện M vào ngày 03/11/1998. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó ông bà là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn hai ông bà chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông P phải đi chấp hành án tù chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Trại giam N, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam. Quá trình xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương cũng thể hiện rõ ông P vi phạm pháp luật đang phải chấp hành án. Bà Q xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, cương quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Ông P đồng ý yêu cầu xin ly hôn của bà Q. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Q và ông P mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P.
[2.2] Về con chung:
Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P có hai con chung là cháu Hà Thị Giang T sinh ngày 24/02/1999, cháu Hà Minh Q1 sinh ngày 01/08/2001. Con chung của ông bà đều đã trưởng thành.
[2.3] Về tài sản chung vợ chồng:
Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[2.4] Về nợ chung vợ chồng:
Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P xác nhận không có nợ chung vợ chồng nên Tòa án không xem xét.
[2.5] Về án phí:
Bà Hà Thị Q chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 300.000VNĐ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P.
Về con chung: Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P có hai con chung là cháu Hà Thị Giang T sinh ngày 24/02/1999, cháu Hà Minh Q1 sinh ngày 01/08/2001 (đều đã trưởng thành).
Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án.
Về án phí: Bà Hà Thị Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002373 ngày 13 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 6 năm 2025.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A T1
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức V
Ông Bùi Nguyên H
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 77/2025/DS-HNGĐ ngày 13/01/2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị Q, sinh năm 1980. Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Bản Đen, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Bị đơn: Ông Hà Văn P, sinh năm 1973. Nơi ĐKNKTT: Bản Đen, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam). Vắng mặt.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
- Về điều luật áp dụng
- Việc giải quyết vụ án
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P.
Về con chung: Bà Hà Thị Q và ông Hà Văn P có hai con chung là cháu Hà Thị Giang T sinh ngày 24/02/1999, cháu Hà Minh Q1 sinh ngày 01/08/2001 (đều đã trưởng thành).
Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án.
- Về án phí.
- Về quyền kháng cáo:
Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Bà Hà Thị Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002373 ngày 13 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Nghị án kết thúc vào hồi 14 giờ 40 phút, ngày 02 tháng 6 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 02/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA về xin ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
